TRƯƠNG THÔNG TUẦN

ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG

TRƯỜNG CA ĐAM SĂN


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS. Trương Thông Tuần

Người thực hiện: Hoàng Thị Hiền

Chuyên ngành: Ngữ văn

Lớp: Sư phạm Ngữ văn K2009 Trường ĐH Tây Nguyên

Khóa: 2009 – 2013

 

MỤC LỤC

 

Trang

MỞ ĐẦU    1

1. Lí do chọn đề tài    1

2. Lịch sử nghiên cứu    3

3. Mục đích nghiên cứu    3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu    3

5. Phương pháp nghiên cứu    3

6. Đóng góp của đề tài    3

7. Cấu trúc của khóa luận    3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN    4

1.1. Tính chính xác    4

1.2. Tính hình tượng    5

1.3. Tính biểu cảm    7

1.4. Tính hàm súc    8

1.5. Khái quát trường ca Đam Săn    10

1.5.1. Nội dung    10

1.5.2. Nghệ thuật    12

1.5.3. Hình thức diễn xướng    12

1.6. Tiểu kết…………………………………………………………………………………..    14

Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG TRƯỜNG CA ĐAM SĂN.    15

2.1. Sử dụng ngôn ngữ hằng ngày    15

2.2. Sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh    18

2.3. Sử dụng ngôn ngữ giàu tính kịch    27

2.4. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ    34

2.4.1. So sánh tu từ    34

2.4.2. Ngoa dụ    38

2.4.3. Mô phỏng    41

2.4.4. Biện pháp lặp    41

2.5. Ảnh hưởng của ngôn ngữ trường ca Đam Săn đối với cuộc sống……    43

2.5.1. Đối với đời sống hằng ngày    44

2.5.2. Đối với sinh hoạt lễ hội    46

2.6. Ảnh hưởng của ngôn ngữ trường ca Đam Săn    47

2.7. Tiểu kết    51

KẾT LUẬN    52

TÀI LIỆU THAM KHẢO    54

PHỤ LỤC    55

 

 

MỞ ĐẦU

 

1. Lí do chọn đề tài

Trường ca Đam Săn (Người Êđê thường gọi là khan Đam Săn) được đông đảo bạn đọc cũng như nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chú ý và quan tâm, có khá nhiều công trình nghiên cứu với những kết quả to lớn về lĩnh vực này.

Đặc biệt hơn tác phẩm Trường ca Đam Săn chứa đựng nhiều nội dung, những nét đặc sắc văn hóa, phong tục tập quán, đời sống sinh hoạt, đời sống tâm linh của người Êđê. Đồng thời, tác phẩm này có giá trị nhiều mặt. Riêng nghiên cứu về ngôn ngữ thì hãy còn quá ít. Vì thế, chúng tôi nghiên cứu đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn hi vọng sẽ góp phần chỉ ra vẻ đẹp ngôn ngữ trong tác phẩm. Tác phẩm Trường ca Đam Săn còn được trích ra học trong trường Trung học phổ thông. Vì vậy, nghiên cứu về mặt ngôn ngữ của tác phẩm sẽ giúp cho việc giảng dạy của người giáo viên đạt hiệu quả hơn, giúp các em học sinh tìm ra vẻ đẹp tinh tế của ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học nói chung và trường ca Đam Săn nói riêng. Là một giáo viên trong tương lai, tìm hiểu vấn đề này chắc chắn sẽ đem lại cho tôi nhiều thuận lợi trong việc giảng dạy cũng như nâng cao vốn hiểu biết của mình về tác phẩm có giá trị này.

Xuất phát từ những lí do trên cùng với lòng yêu mến văn học dân gian nói chung và văn học dân gian Êđê nói riêng, tôi đã chọn đề tài này làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trường ca Đam Săn được người Pháp biết khá sớm. Năm 1928 viên công sứ Đăk Lăk là L.Satatie đã dịch Đam Săn ra tiếng pháp và cho xuất bản ở Pari, với tiêu đề: Bài ca chàng Đam Săn do toàn quyền P.Pas quier và nhà văn Rolan Dorgerle`s viết lời tựa. Tác giả chủ yếu bàn về vấn đề thể loại Khan” là gì mà khiến mọi người dân Tây nguyên lắng nghe say đắm lòng người”.

– Năm 1933, văn bản Đam Săn song ngữ Êđê-Pháp được in lại trên tạp chí của học viện Viễn Đông pháp, tập 1 có cả tiếng Êđê Bài ca chàng Đam Săn là một cuốn sách khởi đầu có ích cho việc sưu tầm và nghiên cứu trường ca Đam Săn. Đồng thời cũng là sự gợi ý cho nhiều công trình sưu tầm, giới thiệu và nghiên cứu sử thi.

- Năm 1959, Đào Tử Chí cho xuất bản Bài ca chàng Đam Săn. Tác giả dịch và bàn về vấn đề xác định thể loại, nội dung của tác phẩm.

- Năm 1963, Ngọc Anh cùng một số cán bộ người Êđê xuất bản Trường ca Tây Nguyên. Đây là cuốn sách đầu tiên của người Việt Nam công bố Sử thi của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam bằng Tác phẩm cụ thể các tác giả đã cho chúng ta tiếp xúc những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc thiểu số.

- Năm1988, Nguyễn Hữu Thấu, Hà Công Tài nghiên cứu và dịch thuật Trường ca Đam Săn“.

Ngoài ra còn có nhiều nhà nghiên cứu như:

+ Chu Xuân Diên có bài: Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đam Săn. Tác giả chủ yếu dịch và bàn về nội dung của sử thi Đam Săn.

+ Bùi Văn Nguyên có bài: Vẻ đẹp hùng tráng và nên thơ trong trường ca Tây Nguyên. Tác giả bàn về vấn đề đề tài và thi pháp trong sử thi.

+ Hà Ngọc Hiến có bài Bài ca chàng Đam Săn như một tác phẩm anh hùng ca Tác giả cũng chỉ dừng lại ở vấn đề đề tài, nội dung của tác phẩm.

+ Nguyễn Văn Hoàn có bài Giới thiệu sử thi Đam Săn Tác giả lí giải nội dung khái niệm thể loại sử thi anh hùng. Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu, xác định thể loại, nội dung trong tác phẩm Đam Săn.

+ G. Condominas có bài: Những quan sát xã hội về hai trường ca Ra đê. Ông đã nghiên cứu khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Đam Di và Đam Săn. Trong bài nghiên cứu này, Ông đã nhiệt thành ca ngợi sử thi Đam Săn: Người ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không nhớ ngay đến một cái đầu đề: Trường ca Đam Săn“. Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc ở nội địa miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác[20;tr. 230].

+ Đỗ Hồng Kỳ có bài: Chuê nuê của người Êđê trong cuộc sống và chuê nuê được phản ánh trong sử thi Đam Săn, đã đi sâu vào đề cập tục nối dây và tác dụng của tục nối dây trong sử thi Êđê đối với cuộc sống của người Êđê.

+ Cuốn sử thi anh hùng Tây Nguyên của Võ Quang Nhơn (1997) đi vào nghiên cứu sử thi Tây Nguyên trên cơ sở địa lý, xã hội, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Tây Nguyên, coi đây là nền tảng phát triển và hình thành sử thi Tây Nguyên. Đồng thời, Ông khẳng định và đề nghị thống nhất dùng thuật ngữ sử thi. Ngoài ra công trình này đã phản ánh độc đáo, sâu sắc nội dung khác có ý nghĩa lịch sử xã hội bao quát các sử thi như: Sự vận động chuyển biến của xã hội, từ cộng đồng mẫu hệ sang chế độ phụ hệ và tiến lên thành bộ lạc[8; tr.756]. Và trong công trình Văn học dân gian Việt Nam (do giáo sư Đinh Gia Khánh chủ biên) trên cơ sở đối chiếu với các thể loại khác của văn học dân gian và đặc điểm về hình thức diễn xướng của nó, Ông đưa ra nhận xét tổng quát về nghệ thuật ngôn ngữ của sử thi Tây Nguyên như sau: Sử thi anh hùng Tây Nguyên là một loại hình thuộc thể loại tự sự dân gian, có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và cả sân khấu nữa“. Đồng thời Ông nêu lên đặc điểm khái quát nhất làm nên giá trị độc đáo của ngôn ngữ sử thi, đó là: Những yếu tố nghệ thuật ngôn ngữ là một tổng thể kết hợp hài hòa, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên giá trị độc đáo không thể bắt chước được của các bản sử thi anh hùng[8; tr.772].

+ Cuốn sử thi Êđê (1991) và vùng sử thi Tây Nguyên của Tiến sĩ Phan Đăng Nhật đề cập đến việc xác định vùng sử thi Tây Nguyên và nói những vấn đề cơ bản của sử thi Tây Nguyên.

+ Năm 1997 hội thảo khoa học về sử thi Tây Nguyên được tổ chức tại Thành phố Buôn Ma Thuật, sau đó cho ra đời tập kỷ yếu sử thi Tây Nguyên điểm lại quá trình nghiên cứu sử thi từ năm 1927 đến nay và những đặc điểm của sử thi Tây Nguyên qua các bài phát biểu của Đại biểu và bổ sung thêm ba bài viết của Tiến sĩ Võ Quang Nhơn, Phan Đăng Nhật, Phan Thị Hồng.

+ Luận văn thạc sĩ của cô Buôn Krông Tuyết Nhung với đề tài Khảo sát sử thi Êđê đã được bảo vệ vào năm 2000, chủ yếu đi vào khảo sát sử thi Êđê và đặc điểm nhân vật anh hùng.

Ta thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về đề tài, nội dung phản ánh, cấu trúc của tác phẩm, nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng. Chúng tôi nhận thấy, vẫn chưa có công trình cụ thể nào tiếp cận, nghiên cứu trường ca Đam Săn dưới góc độ ngôn ngữ. Vì vậy trên cơ sở tiếp thu, kế thừa và phát triển những thành tựu nghiên cứu của các công trình nghiên cứu, chúng tôi tiếp cận, làm rõ khía cạnh đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn.

3. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tiếp cận văn bản, phân tích trường ca Đam Săn, khóa luận làm sáng tỏ những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm.

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn.

4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm sử thi Đam Săn.

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận văn bản: Tiếp cận trực tiếp để đọc, tìm hiểu tác phẩm để thấy được đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm.

– Phương pháp phân tích- tổng hợp: Nhằm làm rõ những điểm độc đáo về mặt sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn, và rút ra những giá trị về vấn đề đã nêu ra và nghiên cứu.

- Phương pháp so sánh- đối chiếu: Nhằm chỉ ra đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn có gì độc đáo hơn so với sử thi khác.

- Phương pháp thống kê: Để thấy được tần số xuất hiện của ngôn ngữ được sử dụng trong trường ca Đam Săn.

6. Đóng góp của đề tài

- Tìm ra những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn.

- Góp phần tìm ra sự phong phú về mặt sử dụng ngôn ngữ trong nền văn học dân tộc.

7. Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Tiểu kết, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 2: Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn.

 

 

 

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 

Nếu như giai điệu, âm thanh là ngôn ngữ của âm nhạc, màu sắc, đường nét là ngôn ngữ của hội họa, mảnh khối là ngôn ngữ của kiến trúc thì ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, phổ thông nhất và hiểu quả nhất của xã hội loài người, và nó còn là chất liệu của các tác phẩm văn học. Ngôn ngữ chứa đựng trong mình nó nhiều dấu hiệu của đời sống như dấu ấn văn hóa- lịch sử; dấu ấn tâm sinh lí; năng lực nhận thức tư duy… Theo các thống kê của các nhà ngôn ngữ học, trên thế giới hiện có khoảng trên 5000 ngôn ngữ. Mặc dù khác nhau về loại hình và cách thức biểu hiện, song chúng đều làm phương tiện giao tiếp và mang những đặc trưng chung của một loại công cụ xã hội đặc biệt. Như vậy ta có thể khẳng định Ngôn ngữ có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội của loài người song để chiếm lĩnh và sử dụng nó một cách hiểu quả nhất còn là một vấn đề không đơn giản. Vì vậy, ta có thể hiểu ngôn ngữ là thứ ngôn ngữ biểu hiện tập trung nhất của tính chính xác, tính hình tượng, tính biểu cảm, tính hàm súc tạo nên vẻ đẹp chân thực mà mỗi nhà văn, nhà thơ đã gửi gắm trong tác phẩm của mình. Điều đó được làm rõ, cụ thể như sau:

1.1. Tính chính xác

Tính chính xác tức là mỗi từ ngữ trong ngôn ngữ phải miêu tả đúng, cụ thể từng chi tiết, từng biểu hiện của sự vật, con người, sự kiện của tâm tư, tư tưởng, ý nghĩa của con người mà người viết nhìn thấy. Trong kho tàng ngôn ngữ phong phú của nhân loại, mỗi nhà văn, nhà thơ chỉ lựa chọn những từ ngữ chính xác nhất, đúng nhất vào trong tác phẩm của mình. Qúa trình ấy không phải giản đơn và lúc nào cũng suôn sẻ mà mỗi nhà văn, nhà thơ phải trải qua quá trình khổ luyện tìm tòi, sáng tạo, tích lũy vốn sống mới có được những cái thần lóe lên làm cho bài văn,bài thơ của mình nổi gió, cất cánh.

Trong lịch sử văn học Việt Nam, Nguyễn Du nổi danh như bậc thầy về dùng từ chính xác qua tập đại thành Truyện Kiều:


Nách tường bông liễu bay sang láng giềng.

Từ Nách” vốn vốn chỉ có nghĩa là một vị trí trên cơ thể người, nơi giao nhau giữa cánh tay và thân mình. Ở đây nó được dùng để chỉ một vị trí trên một đồ vật- một bức tường: nơi giao nhau giữa hai bức tường tạo nên một góc. Việc dùng từ Nách như vậy là dựa vào những mối quan hệ hệ thống: cả nghĩa gốc và nghĩa mới đều có một nét nghĩa chung (nơi giao nhau giữa hai bộ phận của vật tạo nên một góc); đồng thời từ nách cũng chuyển nghĩa như hàng loạt các từ khác (vốn chỉ bộ phận cơ thể con người sang chỉ bộ phận của đồ vật: đầu tường, chân tường, vai tường… Nghĩa mới này của từ “nách hoàn toàn phù hợp với nội dung định diễn đạt trong câu thơ trên. Như vậy ta thấy, Nguyễn Du thật tài tình biết bao, không những chọn từ hay, dùng từ có giá trị nghệ thuật cao mà còn có sự sáng tạo, lựa chọn những từ hay, chính xác nhất vào trong thơ, trong tác phẩm của mình. Ông được mệnh danh là đại thi hào dân tộc quả là không sai.

Hay nhà thơ Tản Đà đã cân nhắc từ tuônkhô cho câu thơ:

Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày

Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.

Cuối cùng, Ông đã chọn từ khô vì nó diễn tả sâu hơn, chính xác hơn, tinh luyện hơn.

Nói tới đặc điểm này làm chúng tôi nhớ đến ý kiến của nhà văn Victor Huy-go, Ông nói: Trong tiếng Pháp không có từ nào hay, từ nào dở, từ nào đặt đúng chỗ là từ đó hay. Qủa thật như vậy, nếu nhà văn biết lựa chọn từ ngữ đúng, chính xác mà để nhầm chỗ cũng như không. Vì vậy, mỗi nhà văn, nhà thơ muốn tác phẩm của mình cất cánh, nổi gió” thì phải lựa chọn từ ngữ sao cho chính xác nhất, tinh luyện nhất, và làm cho người đọc cảm nhận được cái thần trong đó. Đồng thời, từ ngữ đó phải đặt đúng chỗ nữa.

1.2. Tính hình tượng

Ngôn ngữ trong văn học không trừu tượng như ngôn ngữ triết học, chính trị học, cũng không phải là ngôn ngữ kí hiệu hóa như một số môn khoa học. Ngôn ngữ văn học có tính hình tượng. Hình tượng là phương thức biểu hiện chủ yếu của văn học mà được nhiều nhà lí luận và phê bình văn học quan tâm, nghiên cứu và khái niệm hình tượng như sau:

Theo học thuật Nga thì khái niệm hình tượng obraz rất đa nghĩa và ít phân hóa về phạm vi sử dụng, nhưng nhấn mạnh ước lệ nghệ thuật. Còn theo mĩ học Anh – Mỹ thì thuật ngữ này (Image) có nghĩa hẹp và chuyên sâu hơn (không có Image của thời gian và con người, chỉ có “Image” của các chi tiết, tình tiết, sự vật mô tả hoặc “Image” như 1 ẩn dụ).

Các định nghĩa cổ truyền thường xác định Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát dưới hình thức đơn lẻ“[4; tr.98].

Theo Từ điển tiếng Việt thì Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức bằng cảm tính“.

Chẳng hạn trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nhân vật chị Dậu- Đi đâu cũng gặp bất công, gia đình luôn bị bọn quan phủ, quan cụ, cường hào ức hiếp, nhưng chị vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Và trở thành hình tượng ca ngợi phẩm chất cao quý của người phụ nữ.

Hình tượng là vấn đề phổ biến trong văn học và được các nhà lí luận – phê bình văn học quan tâm nghiên cứu. Theo quan niệm của nhà phê bình văn học Lưu Hiệp thì Hình tượng văn học là hình ảnh của thế giới khách quan, sau đó biểu hiện và sáng tạo bằng những cảm nhận tinh tế của mình.

Theo Lê Đạt thì Hình tượng văn học nghệ thuật là bức tranh sinh động nhất được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ có trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ“. Từ định nghĩa này ta có thể phân biệt một cách tương đối, chính xác giữa hình tượng thuộc về văn học và hình tượng thuộc về lĩnh vực nghệ thuật.

Từ những quan điểm trên chúng ta có thể hiểu hình tượng văn học được dệt nên bởi các chi tiết, tình tiết, hình ảnh, quan hệ, cho phép ta hình dung được sự hiểu biết và cảm nhận của tác giả đối với hiện thực khách quan và con người.

Chẳng hạn bài ca dao Cày đồng:

Cày đồng đang buổi ban trưa,

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Ai ơi, bưng bát cơm đầy,

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Bài ca dao này cho ta thấy cảnh Cày đồng vất vả lam lũ, trưa nắng, mồ hôi tuôn và hình ảnh bát cơm đầy đang bưng trên tay là nhờ các từ ngữ gợi ra các sự vật, hiện tượng tương ứng. Nó cũng cho ta một chủ thể với cách cảm, cách nhìn qua lối ví von: Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày và qua lối so sánh: Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. Nếu ví von mới cho ta thấy một phần vất vả thì cái so sánh lại gợi lên cả muôn phần đắng cay mà bài ca dao không nói ra hết, bởi lẽ để làm ra hạt gạo đâu chỉ có việc cày đồng?. Người đọc chỉ có thể cảm nhận hình tượng qua nghĩa của từ và qua cách diễn đạt, ngoài ra không có cách nào khác.

Như ta đã biết, các nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để phản ánh hiện thực khách quan, để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, giúp cho người đọc cảm nhận được ý vị của cuộc sống. Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình bằng các khái niệm trừu tượng, bằng định lý, hay công thức mà bằng Hình tượng” nghĩa là bằng cách làm sống lại bức tranh hiện thực một cách cụ thể, gợi cảm những sự việc, những hình tượng làm ta suy nghĩ về cuộc đời, về con người, về thế giới khách quan qua ngôn ngữ hình tượng.

Hình tượng văn học còn có khả năng tái hiện hiện thực, làm xuất ở người đọc những hình ảnh thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác, những hình ảnh vận động của con người,sự vật, sự việc được nói đến trong tác phẩm văn học.

Chẳng hạn nhà thơ Lê Đình Cánh viết trong bài Em đi:

Ở rừng tự hát ru nhau

Lá trầu chị héo, quả cau em già.

Lá trầu, quả cau là biểu tượng của hôn nhân, hạnh phúc lứa đôi nhưng ở đây thì lá trầu héo và quả cau già báo hiệu thời con gái sắp đi qua.

Hay Tố Hữu viết về bốn mùa trong bài thơ Việt Bắc với ngôn ngữ giàu tính họa làm cho đoạn thơ thành một bức tranh tứ bình:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung“.

Phong cảnh mà tác giả gởi tả ở đây là phong cảnh núi rừng diễn biến qua vẻ đẹp riêng của bốn mùa trong năm: Mùa đông, rừng biếc xanh đột ngột, đây đó bùng lên màu đỏ tươi của hoa chuối rừng như những bó đuốc thắp lên sáng rực. Xuân sang, rừng lại ngập trắng hoa mơ nở trắng rừng. Rồi hè đến ve kêu rừng phách đổ vàng. Nội trong một câu thơ mà thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: Tiếng ve kêu báo hiệu mùa mùa hè – hè đến – rừng phách đổ vàng. Sự đổi thay sinh động ấy làm sống dậy cả thời gian. Và cả rừng đêm thu dưới trăng hòa bình âm vang tiếng hát. Như vậy, có thể nói đây là đoạn thơ hay nhất của Việt Bắc, nó có giá trị tạo hình, được cấu trúc cân đối hài hòa. Nó làm xuất hiện ở người đọc những hình ảnh thị giác, thính giác… những hình ảnh vận động của con người, sự vật được nói đến trong tác phẩm.

Tóm lại ta thấy, trong tác phẩm văn học, nghệ sĩ có thể nói bằng ngôn ngữ thiên nhiên, ngôn ngữ đồ vật, ngôn ngữ hành động, ngôn ngữ màu sắc, âm thanh…, nghĩa là sử dụng thiên nhiên, đồ vật, hành động, màu sắc, âm thanh… làm phương tiện biểu hiện. Nhưng trong đó ngôn ngữ hình tượng là phương tiện biểu hiện chủ yếu của văn học. Nói đến văn học là nói đến hình tượng. Vì vậy, tính hình tượng chính là phương tiện để người nghệ sĩ miêu tả con người và thế giới khách quan một cách sinh động, toàn diện, có hệ thống, qua trí tưởng tượng, sáng tạo của nhà văn làm cho người đọc có thể cảm nhận được một cách dễ dàng, dễ hiểu, chứ nó không trừu tượng như các ngôn ngữ trong các ngành khoa học khác.

1.3. Tính biểu cảm

Ngôn ngữ văn học chẳng những phải chính xác, phải có tính hình tượng mà còn có giá trị biểu cảm nữa. Tính biểu cảm là khả năng của nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm văn học, có thể biểu hiện cảm xúc của đối tượng miêu tả trong tác phẩm, có thể tác động tới tình cảm của người đọc, truyền đạt được những tình cảm, cảm xúc tới người đọc người nghe để dẫn dắt người đọc, người nghe cảm thụ đời sống một cách mới mẻ hơn theo quy luật của cái đẹp. Văn học trực tiếp bộc lộ cảm xúc của nhà văn qua ngôn ngữ văn học. Nhà nghệ sĩ tất nhiên phải giàu tính biểu cảm. Tuy nhiên tính biểu cảm có thể bộc lộ trực tiếp, gián tiếp, có hình ảnh hoặc ngôn từ thuần túy ẩn chứa tình cảm đó.

Như nhà thơ, nhà văn lỗi lạc Nguyễn Trãi có viết: Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn thì bản thân từ nướng” đã ẩn chứa chất cả tinh thần phẫn nộ của Ông đối với giặc Minh. Hay Tú Xương viết: Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông đấy thì từ lèn” vừa tả chính xác hành vi của kẻ cướp, lại vừa bộc lộ thái độ châm biếm, chễ giễu tên quan lại.

Như vậy ta thấy, tính biểu cảm dẫy lên trong người đọc những tình cảm mà người viết gửi gắm trong đó.

Vì vậy, khi nói đến ngôn ngữ văn học, ta không thể quên được lời nhận xét tinh tường của Pau txốp-xki (Nga): Thi ca có một đặc tính kỳ lạ. Nó trả lại cho những cái tươi mát, trinh bạch ban đầu. Những chữ tả tơi nhất mà chúng ta đã nói cạn đến cùng, mất sạch tính chất hình tượng, đối với chúng còn lại chẳng khác gì một cái vỏ chữ. Những chữ ấy trong thi ca lại sáng lấp lánh, lại kêu giòn và tỏa sáng. Qủa đúng như vậy, nhờ sự quan sát tỉ mỉ, trí tưởng tượng, sáng tạo của nhà văn mà ngôn ngữ được thể hiện trong tác phẩm văn học được làm sáng lấp lánh, kêu giòn và tỏa sáng như Pau txốp-xki (Nga) nói.

1.4. Tính hàm súc

Từ điển thuật ngữ văn học xác định: Hàm súc là hình thức diễn đạt, qua đó, người nói có thể thông báo được một nội dung lớn nhất bằng một số lượng các yếu tố ngôn ngữ ít nhất” [5; tr.134].

Đây là đặc điểm chung của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu hiện một cách tập trung với yêu cầu cao nhất trong ngôn ngữ thơ. Nếu ngôn ngữ văn xuôi tự sự là ngôn ngữ của cuộc sống đời thường, nó chấp nhận mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt cuộc sống, tâm lí con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn ngữ thơ lại mang nặng tính đặc tuyển. Là một thể loại có một dung lượng ngôn ngữ hạn chế nhất trong các loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng chiếm lĩnh thế giới. Nói như Ôgiêrôp: Bài thơ là một dung lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích ngôn ngữ nhỏ nhất. Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sĩ phải thổi sáo, nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn ngữ để lựa chọn từ ngữ hay cho tác phẩm. Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật ngôn từ của nhà thơ là Trả chữ với giá cắt cổ: Nhà thơ phải trả chữ với giá cắt cổ như khai thác chất hiếm radium. Lấy một gam phải mất hàng bao công lực, lấy một chữ phải mất hàng tấn quẳng ngôn từ.

Như vậy, tính hàm súc được hiểu là khả năng của ngôn từ có thể miêu tả mọi hiện tượng của cuộc sống một cách cô đọng, ít lời mà hiểu được nhiều ý, Ý tại ngôn ngoại. Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu hiện cao nhất kiểu như Nguyễn Du đã giết chết các nhân vật Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, mỗi tên bằng một từ: Cái vô học của Mã Giám Sinh: Ghế trên ngồi tót sỗ sàng; cái gian manh của Sở Khanh: Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào; cái tầm thường ti tiện của Hồ Tôn Hiến: Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình (Truyện kiều).

Do quy mô của tác phẩm, thơ ca thường sử dụng từ ngữ rất “tiết kiệm. Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ, vì vậy, chứa đựng các thuộc tính khác. Hàm súc cũng có nghĩa là phải chính xác, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và thể hiện cá tính của người nghệ sĩ. Chẳng hạn trong thơ Nguyễn Khuyến ở bài Thu Vịnh:

Nước biếc trông như tầng khói phủ

Song thưa để mặc bóng trăng vào.

Từ mặc đã được lựa chọn để thay thế cho từ lọt“, mặc dù đó không phải là các từ gần nghĩa, hay đồng nghĩa. Từ lọt chỉ biểu hiện được trạng thái một sự vật (ở đây là bóng trăng) xuyên qua khẽ hở, hay lỗ thủng của một sự vật khác (cửa sổ); cùng lắm từ lọt diễn tả được trạng thái yên tĩnh, trong đó các vật tự nhiên đan xen vào nhau. Trong khi đó, từ mặc lại là từ diễn tả một trạng thái tâm lí, một ý thức để cho đối tượng khác hoạt động tùy ý, tự nhiên mà không ngăn trở hay can thiệp vào. Với từ mặc” khung cảnh có hồn hơn, có cảm xúc hơn, và sự hòa quyện ở đây là sự hòa quyện có tâm hồn, có cảm xúc.

Hay là, từ khô trong câu thơ của Tản Đà: Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày. Từ khô là một từ có tính hàm súc cao mà những yếu tố tương với nó như từ “tuôn không thể thay thế được. Nó không chỉ diễn tả được chiều sâu của tình cảm mà còn gợi lên cả chiều dài của những năm tháng chờ đợi. Nó vừa bảo đảm được tính chính xác, tính hình tượng, vừa có tính truyền cảm.

Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong những cái hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt mà nhà nghiên cứu Phan Ngọc gọi là Quái đản. Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà phong phú, sâu sắc, tinh tế hơn. Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ. Ví dụ: Khi Hồng Nguyên viết: Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau thì chính trong quan hệ với những yếu tố trước và sau nó mà từ đột kích được cấp cho một nghĩa mới, gợi lên những rung động thẩm mỹ. Hay trong câu thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ: Em đã lấy tình yêu của mình thắp lên ngọn lửa thì sự kết hợp bất thường về nghĩa đã mở ra những liên tưởng hết sức thú vị. Trong đời thường, khi nói đến việc thắp lửa, người ta một là nghĩ đến phương tiện như: Cái bật lửa, que diêm … hai là nguyên liệu như: dầu hoả, dầu dừa … Ở đây, nhà thơ lại thay nó bằng một chất liệu rất trừu tượng thuộc lĩnh vực tinh thần.Và trong quan hệ với cái chất liệu trừu tượng đó, nghĩa bề mặt của ngọn lửa bị mờ đi, mở ra những nghĩa mới. Đó là: Chân lý, niềm tin, lý tưởng cuộc đời….

Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuôi. Nhiều lúc, trong một bài thơ, có thể thấy xuất hiện cùng một lúc các phương tiện tu từ khác nhau, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, tượng trưng, điệp từ, điệp ngữ. Bài ca dao trữ tình sau đây là một ví dụ:

Khăn thương nhớ ai

Khăn rơi xuống đất

Khăn thương nhớ ai

Khăn vắt lên vai

Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt

Mắt tương nhớ ai

Mắt ngủ không yên

Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề.

Bài ca dao có số lượng từ không nhiều nhưng bằng các biện pháp tu từ đã thể hiện được tâm trạng khắc khoải nhớ mong của người con gái dường như còn vang mãi, dư âm đến tận bây giờ và cả mai sau, không chỉ một người mà còn của nhiều người.

Tóm lại ta thấy, tính hàm súc của văn chương là sự súc tích, cô đọng, là lời chật, ý rộng, lời đã hết mà ý vô cùng, để lại nhiều dư vị trong lòng người đọc.

1.5. Khái quát trường ca Đam Săn

Trường ca (hay sử thi, tiếng Ê-đê là Khan, tiếng Mnông là Ót ndrông, tiếng Gia rai là Hri, tiếng Bana là Hơmon, tiếng Mạ là Nôtông) Đam Săn là một trong những thiên sử thi nổi tiếng của người Êđê được lưu truyền rộng rãi ở Tây Nguyên. Sử thi Đam Săn kể về một tù trưởng hùng mạnh, can đảm, sẵn sàng sả thân cho sự sống còn của cộng đồng. Đam Săn là một lớp người mới chống lại và tìm cách thoát khỏi luật tục hôn nhân nối dây theo kiểu tập quán mẫu hệ, đánh dấu sự chuyển biến về quản lí gia đình và xã hội từ người phụ nữ sang người đàn ông của tộc người Ê đê. Từ khi ra đời sử thi này đã tạo nên một sức hấp dẫn mạnh mẽ vì nó chứa đựng những nội dung xã hội rộng lớn và phong phú đánh dấu một cột mốc lịch sử của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng. Cũng như nhiều sử thi khác, trường ca Đam Săn thuộc sử thi anh hùng tức là những sử thi mô tả sử nghiệp và chiến công của những người anh hùng, những người anh hùng kết tinh sức mạnh phi thường, tài năng và vẻ đẹp của cộng đồng. Vì vậy, nó cũng có nội dung, nghệ thuật, hình thức diễn xướng như các sử thi. Điều đó được làm cụ thể như sau:

1.5.1. Nội dung

Nhân vật trung tâm là người anh hùng Đam Săn có sức mạnh, tài năng và vẻ đẹp phi thường như Bắt voi, chặt cây thần. Vấn đề trung tâm của sử thi Đam Săn tập trung thống nhất nêu lên đó là cuộc chiến tranh mà nhân vật anh hùng Đam Săn tiến hành với các tù trưởng thù địch như Mtao Grứ, Mtao Mxây để chống lại hành động cướp đoạt nàng Hơ Nhí và bảo vệ buôn làng. Ở đây, nhân vật anh hùng tham gia chiến trận không chỉ là những nhân vật lẻ loi, đơn độc mà là những tập thể đông đảo Những anh em, cả buôn làng tham gia chiến trận. Những cuộc tụ binh trên quy mô rộng lớn thể hiện uy danh của người tù trưởng: Hãy mời tất cả bà con, tất cả các bộ tộc…hãy gọi về tất cả dân trong vùng…, những lần xuất trận đầy khí thế thể hiện sức mạnh của cộng đồng:Hàng nghìn, hàng vạn người cùng đi…“. Cuối cùng kẻ gây hấn thường thất bại, người anh hùng thường chiến thắng. Cộng đồng lại mở hội mừng vui. Hình ảnh cả cộng đồng tham gia chiến trận thể hiện một cách sinh động tính chất toàn dân của sử thi anh hùng. Đồng thời, những hình ảnh đó cũng thể hiện khá sâu sắc mối quan hệ hài hòa, gắn bó giữa nhân vật anh hùng với tập thể cộng đồng mà họ sống và hoạt động. Qua đó làm nổi bật lên hình tượng Đam Săn Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng có công bảo vệ cộng đồng, khẳng định một cách đầy tự hào sự tồn tại và phát triển của xã hội cộng đồng
[8; tr.756].

Hình tượng Đan Săn chiến thắng các tù trưởng hùng mạnh khác để trở thành Tù trưởng của các tù trưởng phản ánh khát vọng của cả cộng đồng. Cảnh đông vui, tấp nập Trăm người đi trước, nghìn người cất bước theo sau, Người đông nghìn nghịt, tới tấp gieo trỉa, trông mù mịt như một đêm không trăng…là niềm tự hào chung của cả cộng đồng.

Đồng thời với chủ đề lớn trên đây, ta cũng thấy sử thi Đam Săn phản ánh một cách khá độc đáo và sâu sắc một nội dung khác, có ý nghĩa xã hội – lịch sử lớn lao, bao quát cả sử thi: Đó là sự vận động chuyển biến lớn của xã hội, đi từ công xã mẫu hệ sang chế độ phụ hệ và tiến lên thành bộ lạc” [8; tr.756].

Như sử thi Đam Săn thể hiện cuộc đấu tranh, cuộc đọ sức quyết liệt dai dẳng giữa một bên chế độ mẫu quyền tuy còn mạnh, nhưng bắt đầu lung lay (tiêu biểu là tục nối dây-chuê nuê) và một bên là thế lực mới, tuy có vẻ lẻ loi nhưng đang trỗi dậy mạnh mẽ (tiêu biểu là nhân vật anh hùng Đăm Săn).

Qúa trình diễn biến của khan Đam Săn từ lúc mở đầu bằng cuộc cầu hôn của Hơ Bhí đến lúc kết thúc có tính chất bi kịch của nhân vật trung tâm Đam Săn thể hiện một quá trình tấn công và phản công diễn ra liên tục: Giữa nối dây với không chịu nối dây; giữa việc bắt buộc phải làm nhiệm vụ với không làm nhiệm vụ của người chồng theo tục lệ truyền thống quy định; giữa việc tôn trọng, bảo vệ cây vật linh thiêng của tổ tiên của dồng họ vợ (cây Smuk) với chặt bỏ, triệt phá cây vật đó; giữa việc tuân thủ với chống đối luật tục do nhân vật siêu nhiên là ông Gỗn điều hành; giữa việc chịu an phận sống với vợ con theo nếp đã định sẵn với việc Mở ra con đường đi theo ý muốn để chinh phục nữ thần Mặt trời.

Kết cục của số phận nhân vật Đam Săn bị chết trong đất nhão của bà Sun Y Rít mới nhìn qua tưởng chừng như đó là sự thất bại của nhân vật anh hùng lỗi lạc, nhưng chi tiết thần kỳ ở cuối bản khan Đam Săn lại đầu thai thành Đam Săn con lại toát lên khát vọng khá sâu sắc, mãnh liệt của nhân dân, được gửi gắm qua hình tượng Đam Săn con ra đời nối tiếp sự nghiệp Đam Săn cậu thể hiện sự chiến thắng của chân lí của cuộc sống đang trong quá trình vận động đi lên của nó Khuôn khổ của tục lệ nối dây theo dòng mẫu hệ quá chật hẹp, lỗi thời không còn phù hợp với yêu cầu cuộc sống mới nữa, nó không làm thế nào bóp nghẹt được sức sống mới đang trỗi dậy và được nuôi dưỡng ngay trong lòng công xã. Nhất định là khuôn khổ lỗi thời đó sẽ bị thế lực mới trong xã hội phá vỡ theo chân lý của cuộc sống, phù hợp với tiến trình khách quan của xã hội, phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, người đã sáng tạo nên bản sử thi bất hủ
[8; tr.758]. Như vậy ta có thể khẳng định: Toàn bộ truyện xoay quanh trục đối lập gay gắt giữa một bên là sự áp đặt của tục lệ với một bên là sự chống đối quyết liệt để thoát khỏi sự ràng buộc của tục lệ ấy. Đó là tuyến chính của nội dung khan Đam Săn. Đồng thời, các nghệ nhân còn xây dựng nhân vật anh hùng Đam Săn thành một vị anh hùng trăm trận trăn thắng, đã chiến thắng oanh liệt các tù trưởng hùng mạnh như Mtao Grứ, Mtao Mxây, đam lại sự giàu có và bảo vệ cuộc sống cho cả cộng đồng. Mặt khác, Đam Săn còn là người tù trưởng tài giỏi, biết hướng dẫn các thành viên trong công xã khai phá nương rẫy, săn bắn, đánh cá có hiệu quả cao. Những chiến công trong chiến đấu cũng như những thành quả sản xuất là những mặt quan trọng khác của sử thi, góp phần khẳng định vai trò của người đàn ông ngày càng được nâng cao.

1.5.2. Nghệ thuật

Cũng như các tác phẩm sử thi cổ đại Iliat và Ôđixê của HiLạp và các sử thi Tây Nguyên khác, trường ca Đam Săn mang những đặc điểm cơ bản của nghệ thuật sử thi nói chung: Dung lượng tác phẩm đồ sộ; kết cấu trùng điệp, chia thành nhiều chương khúc, ngôn ngữ trang trọng, giàu hình ảnh so sánh, phóng đại, tượng trưng… Mặc dù có những đặc điểm chung về nghệ thuật nhưng sử thi Đam Săn vẫn có đặc điểm độc đáo hơn.

Sử thi Đam Săn là loại hình thuộc thể loại tự sự dân gian, có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm cả các yếu tố nghệ thuật ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu nữa” [8; tr.772]. Những yếu tố nghệ thuật trên là một tổng thể kết hợp hài hòa, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên giá trị độc đáo không thể nào bắt chước được của sử thi. Có thể nói rằng, nét nổi bật gây ấn tượng sâu sắc, đặc biệt kì thú đối với những độc giả được tiếp xúc với sử thi Đam Săn. Đó là cách nói ví von, giàu hình ảnh, tràn ngập trong khắp tác phẩm, cùng với đó là cách sử dụng các biện pháp (phóng đại, ngoa dụ, so sánh, đối lập…). Vẻ đẹp hoàn chỉnh của nghệ thuật của sử thi Đam Săn đó là tính kịch trong ngôn ngữ tác phẩm, hầu như các câu truyện của sử thi được trình bày dưới hình thức ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật. Chẳng hạn mở đầu Trường ca Đăm Săn” lời đối đáp giữa giữa hai nàng Hơ Bhí và Hơ nhí với người anh em của mình bàn việc đi cưới Đăm Săn.

Sử thi Đam Săn đã thu hút các nhà nghiên cứu và các sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của dân tộc từ các lời tục ngữ văn vè ngắn ngọn đến các bài ca nghi lễ cúng thần, từ các bài ca tục lệ trong cộng đồng đến những khúc tình ca nam nữ. Chính sự tổng hợp đó tạo nên nghệ thuật phong phú, chứa đựng những nội dung xã hội rộng lớn của một quá khứ không trở lại. Đó cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự bền vững trong việc bảo vệ và lưu truyền sử thi Êđê.

1.5.3. Hình thức diễn xướng

Phương thức diễn xướng của sử thi Đam Săn nói riêng và sử thi Tây nguyên nói chung là kiểu kể chuyện xưa, vừa có hát theo lời thơ, vừa có xen kẽ những đoạn nói lối theo lời nói thông thường, vừa có yếu tố nghệ thuật sân khấu, qua việc diễn xướng độc thoại hoặc đối thoại giữa các nhân vật, có kèm theo nghệ thuật diễn tả tình cảm, thông qua nét mặt và điệu bộ của nghệ nhân diễn kể. Như vậy, xét về phương tiện diễn xướng căn cứ theo dạng vốn tồn tại của chúng, có thể nói rằng trường ca Đam Săn là tác phẩm thuộc loại hình tự sự dân gian, trong đó có sự kết hợp hài hòa một cách tự nhiên các yếu tố nghệ thuật khác nhau: Lối nói văn xuôi, nói vần của thơ ca, hát của thanh nhạc và diễn xướng của sân khấu.

Người nghệ nhân kể khan đa số là nam giới, nắm rõ về luật tục, có tuổi lớn trong làng có uy tín và kinh nghiệm, thuộc nhiều sử thi đồng thời cũng là người có giọng nói truyền cảm, có năng khiếu kể chuyện, dẫn chuyện, có sức khỏe tốt. Người nghệ nhân kể chuyện với phong cách cường điệu, kì ví hóa diễn đạt theo một kết cấu trùng điệp, với nhiều đoạn mô tả được nhắc đi nhắc lại như (Tiếng chiêng, cảnh ăn uống tháng, cảnh làng mạc đông vui, giàu có, cảnh múa khiên đao…) những điệp khúc đó được chắt lọc, cô đúc lại thành những mô típ quen thuộc đi vào trong tâm tưởng bám sâu vào trong đời sống tinh thần của người Tây nguyên. Người nghệ nhân kể sử thi không chỉ dừng lại ở việc thuyết minh kể lại các tình tiết trong truyện mà người kể đồng thời cũng là người đồng sáng tạo bằng việc tái hiện lại một cách sống động kết hợp lời kể với động tác thân thể như chính nhân vật hay chi tiết thật làm nên tính hấp dẫn đối với người thưởng thức. Cùng với nghệ nhân biết hát, kể, công chúng là nơi tiếp nhận khan đồng thời là cái nôi để nuôi dưỡng và sinh ra các nghệ nhân.

Trong những buổi nghe khan, họ như đắm mình vào thế giới mộng ảo, họ chăm chú nghe từng lời từng chữ. Người nằm, người ngồi, người nghe cứ như thế từ đêm này qua đêm khác, hòa mình vào trong thế giới của các nhân vật anh hùng, cùng cảm nhận niềm vui, hạnh phúc hoặc bất hạnh của các nhân vật. Bên bếp lửa bập bùng, tất cả dường như đắm chìm vào cuộc viễn hành của quá khứ. Âm thanh thường nhật hầu như lắng xuống, quanh bếp lửa bập bùng trong đêm, mọi nười ngồi im bất động, ta chỉ còn nghe giọng lên bổng xuống trầm của các nghệ nhân, lúc thì thầm như lời tâm tình của đôi nam nữ; khi thì rì rào như như thác đổ, tiếng hí, tiếng chân của voi ngựa ra trận, khi thì âm thanh như tiếng gọi binh hoặc tiếng trống khải hoàn của các nhân vật anh hùng khi chiến thắng trở về. Họ như quên thực tại, quên những lo toan vất vả của ngày thường để sống với thế giới hoành tráng, thế giới của các nhân vật anh hùng, những Đam Săn, những người đẹp… Dưới ánh lửa bập bùng, bóng của nghệ nhân như ẩn như hiện, nửa hư nửa thực, giọng kể của nghệ nhân như có ma lực cuốn hút, hấp dẫn mọi người bước vào thế giới cổ xưa, thế giới của các nhân vật anh hùng mang tầm vóc vũ trụ.

Một yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong phương thức diễn xướng sử thi Đam Săn nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung đó là không gian và thời gian diễn xướng. Người nghệ nhân thường kể sử thi trên những ngôi nhà sàn, nhà rông, bên đống lửa cháy bập bùng trong đêm, hay trong các ngày lễ như các nghi lễ vòng đời người hay lễ cúng thần linh, và có thể họ kể cho nhau nghe trong những lần đi rừng, hay sau những ngày đi phát nương trên rẫy, đổi công tuốt lúa, trong những phút nghỉ ngơi mệt nhọc, cảm hứng muốn thưởng thức khan của mọi người đến bất chợt….Còn thời gian diễn xướng chính là thời gian phù hợp để diễn ra hoạt động kể sử thi, thời gian đó có thể là ban ngày có thể là lúc tối, cũng có thể từ ngày này qua ngày khác, mỗi một thời điểm người kể sẽ kể một tình tiết truyện phù hợp đảm bảo được tính liên hoàn giữa câu truyện được kể và cuộc sống đang diễn ra xung quanh.

Như vậy, ta thấy sinh hoạt văn hóa kể khan của tộc người Êđê dã trở thành một phong tục đẹp, nó có ý nghĩa bồi dưỡng đạo đức, ý thức dân tộc cho mọi thành viên trong công đồng nhớ về cội nguồn, để xứng đáng với cha ông, với đất trời, với tổ tiên của tộc người Êđê. Và qua đây ta cũng hiểu ra rằng khan là một thể loại tổng hợp, có ngôn ngữ giao tiếp, có ngôn ngữ nghệ thuật, có lời cúng thần, có tiếng khóc của tang lễ, có lời nói vần, lúc ngâm lúc kể, lúc lên bổng xuống trầm, lúc thì thầm âu yếm, lúc hoành tráng…tất cả đều gây ấn tượng trong lòng người đọc. Trường ca Đam Săn nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung mãi mãi là tài sản nghệ thuật vô giá trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

Nét khác biệt giữa sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng với các sử thi cổ điển khác như Ôđixê, Ramayna, Kalevala là hiện nay chúng chỉ tồn tại chủ yếu trên sách vở hay đã bị biến dạng trong các hình thức nghệ thuật khác, sử thi Tây Nguyên vẫn sống đời sống riêng của nó trong lòng đời sống cộng đồng của đồng bào Êđê. Sử thi Tây nguyên là một dạng văn hóa phi vật thể, sáng tạo, lưu truyền qua truyền miệng, tiềm ẩn trong trí nhớ của nghệ nhân, chỉ khi nào có dịp cưới xin, hội hè, mừng nhà mới, đón tiếp khách quý, mừng trẻ con đầy tháng, đầy năm thì nghệ nhân mới hát kể sử thi, lúc đó sử thi mới hiện hữu. Như vậy, sử thi Tây Nguyên gắn bó với nghệ nhân, gắn bó với sinh hoạt cộng đồng tức là gắn bó với con người và xã hội con người Êđê nói riêng.

1.6. Tiểu kết

Ngôn ngữ là yếu tố cần và đủ để làm nên một tác phẩm văn học. Nhờ có ngôn ngữ mà các nhà văn, nhà thơ diễn đạt được tâm tư, tình cảm, thái độ, khát vọng của mình và qua đó làm cho người đọc khám phá, lĩnh hội được bức thông điệp mà mình gửi gắm trong đó. Không phải hễ có ngôn ngữ là mỗi nhà văn đều làm nên một tác phẩm khẳng định mình trong diễn đàn văn học được. Mà mỗi nghệ sĩ đã trải qua một quá trình tìm tòi, sáng tạo những ngôn ngữ đó phải tập trung biểu hiện tính chính xác, tính hình tượng, tính biểu cảm, tính hàm súc. Và qua đó nhà văn cũng mượn các biện pháp tu từ như so sánh, phóng đại… để làm bài văn mình hay, hấp dẫn người đọc hơn. Và các nghệ nhân người đồng bào Êđê đã làm được điều đó. Họ đã sáng tạo, sáng tác các tác phẩm bất hủ để lại cho đời, tác phẩm đó mãi là tài sản vô giá trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG

TRƯỜNG CA ĐAM SĂN

 

Tiếp xúc trực tiếp với sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng, chúng tôi nhận ra rằng những tác phẩm sử thi Sáng ngời như những viên ngọc quý” không còn là của riêng dân tộc nào mà là vốn quý của cả nước. Một trong những yếu tố góp phần tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm sử thi là ngôn ngữ, ngôn ngữ của nó mang vẻ đẹp nguyên hợp tức là trong đó không chỉ có ngôn ngữ của thơ ca, ngôn ngữ của kịch, ngôn ngữ của nhạc mà còn ngôn ngữ độc thoại, đối thoại và kèm theo các hình thức ngôn ngữ là hành động diễn xướng của nghệ nhân khi hát sử thi. Điều đặc biệt hơn nữa, ngôn ngữ trong sử thi Đăm Săn không chỉ có lời kể mà còn có lời hát, lời than, lời khóc, lời của các bài cúng mà còn sử dụng ngôn ngữ rất gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày, ngôn ngữ giàu hình ảnh, và đặc biệt là ngôn ngữ giàu tính kịch làm cho người đọc luôn luôn thích thú, say sưa khi đọc sử thi Đam Săn. Ngôn ngữ trong trường ca Đam Săn gồm những đặc điểm sử dụng như sau:

2.1. Sử dụng ngôn ngữ hằng ngày

Ngôn ngữ hằng ngày (sinh hoạt) tức là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày, nhằm trao đổi ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm nhằm đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống. Ngôn ngữ sinh hoạt gồm hai dạng đó là dạng nói và dạng viết, mà dạng nói là chủ yếu. Trong văn bản văn học, lời đối thoại của nhân vật là dạng tái hiện, mô phỏng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày.

Ở trong sử thi Đam Săn, ta có thể thấy rõ rằng mở đầu thiên sử thi là lời đối đáp, đối thoại của hai nàng Hơ Bhí và Hơ Nhí với người anh em của mình bàn việc đi cưới Đam Săn:

H’~& – Ơ Y Dhing wơi, ơ Y Ling wơi, ơ Y Dhang wơi, ơ Lang wơi, êgao êngao “ăng jang koh anak tuê kđi kăn mâo ! Ơ Y Such wơi, ơ Y Sah wơi, hriê tơ anei!

Y DHING – Ya klei ih iêu hmei kơh, ơ adei? Ya klei ih kưu hmei kơh, ơ adei?

H’ ~& – Kâu iêu bua\ anei klei đăm amâo, kâu iêu brua\ adih klei đăm amâo. Hing kơ yang, ang kơ cư\, hmư\ yu\ ngo\ ara\ng lac H’~ ^, H’Bh^ kyâu lu êguh, djuh lu êdram, dam lu adei lu. Bơ anei si be\ hmei gơ\ dôk mting mtung si put m”roh, asei dôk soh, ung yua amâo mâo.

Y DHING – Anăn lah, adei ah, ti lei atiê ih ba, êwa ih khăp? Ti lei anăp ih m^n, ti lei anăp ih ư?

H’ ~& – Ti kâu khăp kâu dê, ayo\ng ah? Ti kâu cia\ng kâu dê, ayo\ng ah? Ung kâu aduôn drei leh duah brei, aê drei leh duah pioh. Leh djiê aduôn drei Hbia Klu, kâu gơ\ mnuih arăng cuê, nuê ka, “ă mdum ho\ng aê drei Mtao Kla. Kâu gơ\ aê pu\ tơ pha, êkei Dăm Săn ae “ă tơ ro\ng. Anăn kpih ho\ng kbao, aê lac kơ kâo: Kâu kơ khua mta mmăt, hăt drao ê io|. Amâo knang hmang kâo mâo dôk ôh cô kâo anei. Tơ mduôn hma khua kpuh, êbuh kpơ\ng hnuôr, tơ mduôn he\| kâo, tơ pro\ng la khua ai, di ih bi dôk ma\ ih dua ho\ng êkei Dăm Săn. Tơ êkei Dăm Săn dôk he\ mô| mniê “uôn yu\ pu\ ngo\, `u jing mgăt krư| aseh kleh cing, tling êman H’ ~^. Tơ `u dôk H’~^ kơk, sah pro\ng mdro\ng jing, cing lu char lu. Anăn aê lac kơ kâu: Tơdah kâu dôk he\ ung “uôn yu\ pu\ ngo\, kâu jing mgăt ciêm u\n, hlu\n krư\ mnu\ êkei Dam Săn. Tơ kâu dôk he\ êkei Dam Săn kôh, sah pro\ng mdro\ng jing,cing lu char lu. {ơ\k gơ\ jăk aduôn yăl brei, aê yăl pioh, ayo\ng naok`a brei êkei Dam Săn be\ tơ mâo ekei Dam Săn, tơ lui êkei Dam Săn mơh, ayo\ng ah.

Dịch nghĩa :

HƠ NHỊ – Ơ Y Đhing ơi! Ơ Y Ling ơi! Ơ Y Đhang ơi! Ơ Y Lang ơi! Ở ngoài cổng làng có xử chém kẻ lạ nào đâu! Ơ Y Suh ơi! Ơ Y Sah ơi! Vào đây nào!

Y ĐHING – Ơ em, có việc gì mà em gọi, có việc gì mà em kêu chúng tôi đấy hả, em?

HƠ NHỊ – Tôi gọi anh em chẳng vì công này, cũng chẳng vì công việc nọ. Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, nghe đông tây đâu đâu cũng nói Hơ Nhị, Hơ Bhị như gốc nhiều cành, như cây nhiều nhánh, anh em lắm, họ hàng nhiều. Thế mà sao cho đến nay chúng tôi vẫn thui thủi một mình, chình ình ra đó như cây put ải, tấm chồng còn chưa có để mà dùng.

Y ĐHING – Ơ em, vậy thì lòng em đã ưng ai, bụng em đã thương ai, ai là người em đã để ý?…

HƠ NHỊ – Tôi thì tôi con biết thương ai, ưng ai nữa! Chồng tôi, bà chúng tôi đã tìm giùm, ông chúng ta đã kiếm giúp. Khi bà Hbia Klu chúng ta qua đời, tôi là người được họ hàng đem chắp nối với ông Mtao Kla của chúng ta, làm nuê dành sẵn cho ông. Khi giết trâu làm lễ cầu phúc, ông bế tôi trên đùi, còn Đăm Săn thì cõng trên lưng, ông đã bảo tôi rằng: Nay ông đã đầu bạc mắt mờ, như điếu thuốc đã tàn, không mong gì rồi đây ông còn lấy cháu ông được nữa. Khi nương đã cằn, rẫy đã cỗi, cây đã đổ, gỗ đã mục, ông đã già mà hai cháu đã lớn khôn thì hai cháu phải lấy nhau. Nếu Đăm Săn lấy vợ đằng đông, xóm tây, Đăm Săn sẽ trở thành đứa giữ ngựa, tháo chiêng, xiềng voi cho Hơ Nhị. Chi lấy Hơ Nhị, Đăm Săn mới trở thành một tù trưởng giàu có, chiêng lắm la nhiều. Còn với tôi thì ông đã dặn: nếu tôi lấy chồng làng đông, xóm tây, tôi cũng sẽ trở thành con nô lệ nuôi lợn, nhốt gà cho Đăm Săn. Chỉ lấy Đăm Săn tôi mới trở nên một tù trưởng chiêng lắm la nhiều. Vì bà đã dạy phải, vì ông đã bảo đúng, các anh hãy đi hỏi Dăm Săn xem phải chăng chàng còn thuận lấy tôi hay đã bỏ“[16; tr.6].

Đoạn đối thoại trên được diễn ra rất tự nhiên, gần gũi, giàu màu sắc biểu cảm-cảm xúc, sinh động. Dùng từ gọi Ơ tạo sự thân thiết, những từ ngữ như cây put ải, lễ cầu phúc, chiêng lắm la nhiều rất gần gũi với đời sống của đồng bào Êđê. Cách nói của họ rất độc đáo, rất riêng của đồng bào Êđê Không thể nào bắt chước được họ.

Đôi khi trong giao tiếp hàng ngày, do thói quen, do tính chất của mối quan hệ vai bằng nhau giữa hai người đối thoại, trong những hoàn cảnh không theo nghi thức, hay do tâm trạng lúc giao tiếp, họ có thể dùng cả những từ ngữ thô tục, tục tằn như đoạn hai chị em Hơ Nhị Và Hơ Bhị đến hỏi Đăm Săn làm chồng. Đến nơi, họ thấy tôi tớ đang giã gạo như vãi cối, vãi chày:

H’ ~& – Ơ hđeh, ti anôk sang khua di ih?

HĐEH – Ti mâo khua! Ko\ pi\n êa mil mơ\ng hmei; ana mnang khua “uôn sang mil mơ\ng hmei.

H’~& -Ơ hđeh, ya di ih hlăp kâo mse\ “un mse\ “an, mse\ êlan hdăm mông mac!…

H’ ~& – Ai “uôn anei, hlăp kâo mse\ “un “an! Đăt ami\ `u, liên ami\ `u, “uôn anei!

Dịch nghĩa:

HƠ NHỊ – Ơ các con, ơ các con, người đứng đầu các con ở đâu?

TÔI TỚ – Làm gì có người đứng đầu! Đầu giếng nước là từ chúng tôi, cây cau đầu làng là chúng tôi.

HƠ NHỊ – Ơ các con, sao các con lại giỡn ta như giỡn một con mụ nghèo hèn, khinh ta như khinh bầy kiến đen, kiến đỏ vậy!…

HƠ NHỊ – Gớm thật là cái lũ làng này! Chúng cứ giỡn ta như giỡn một con mụ nghèo hèn. Thây chúng mày! L. mẹ chúng mày cái làng này“[16; tr.15,16].

Hay là đoạn Đăm Săn mắng quát bọn tôi tớ trong nhà:

DĂM SĂN – Đăt ami\ di ih sang anei! Liên ami\ di ih sang anei! Si nga\ di ih thâo brei anak arăng nao gui êa? Amâo di ih thâo he\ anak arăng sah pro\ng jing, cing leh lu, char leh lu?

Dịch nghĩa:

ĐĂM SĂN – Thây mẹ chúng mày cái nhà này! L. mẹ chúng mày cái nhà này! Sao lại để con nhà người ta đi cõng nước hả? Há các người không biết người ta là con của một tù trưởng giàu có, chiêng lắm la nhiều ư?[16; tr.23].

Như vậy ta thấy đoạn đối thoại trên dùng những từ ngữ thô tục là do trạng thái lúc giao tiếp với nhau, hay là xảy ra một sự viêc quá bất ngờ khiến chủ thể tức giận, không kiềm chế dược cảm xúc nên dùng từ Thây mẹ chúng mày, L. mẹ chúng mày là điều dễ hiểu và là điều đương nhiên.

Trong các sinh hoạt hằng ngày như cảnh ăn uống, vui chơi, trang phục, kể cả giao tiếp cũng sử dụng ngôn ngữ hằng ngày,có nhiều cung cách giao tiếp, ứng xử dựa trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau xứng đáng làm mẫu mực cho mọi quan hệ thời đại. Nét phổ biến nhất trong ứng xử, giao tiếp là họ luôn hạ mình, khiêm nhường nhưng vẫn giữ vị thế, bản lĩnh của người làm chủ nhà. Tinh thần quý khách được biểu hiện qua thái độ trân trọng, đối xử hết sức tốt đẹp với khách. Một thứ uyển ngữ đáng yêu được dùng trong cung cách mời mọc: H’Ơ|NG – Hua\ be\, ayo\ng adei ah! Êsei hmei bâo êba, êa bâo bru\, mnu\t lang pah, mniê djhah djhi\l tlang ma\, ktia\ tlang “ơ\ng, mniê joh yơ\ng mdơ\ng êsei djam kơ tuê. Di ih hua\ ma\ kpliê.


Dịch nghĩa:
Cơm chúng tôi hôi mùi mốc, nước chúng tôi tanh mùi bùn, gà chúng tôi gà diều tha, người dọn cơm mời anh em là những con mụ đàn bà què quặt, ăn mặc xộc xệch, trông như những con két diều tha, như những con vẹt diều mổ, mời anh em ăn cho“[16; tr.9]. Còn khách đáp lại bằng những lời tán dương, rất khiêm tốn, tế nhị: Y DHING – Hmei hrie sang ih, hmei hua\ mao du\m anei.

Dịch nghĩa: Đến nhà chị, chúng tôi ăn chừng ấy. Ở nhà chúng tôi, một quả dưa hấu chúng tôi ăn ba đời, một quả dưa gang chúng tôi ăn ba năm đấy chị ạ“[16; tr.9]. Trong cách nói đầy khiêm tốn ấy được sử dụng rất đắt giá, cách nói thường rõ ràng nhưng giàu hình tượng, mang hơi thở của thiên nhiên, gần gũi và mộc mạc. Ngoài ra họ còn tận tình giúp đỡ chân tình những thành viên gặp điều không may, lâm vào cảnh túng thiếu bất kể người đó thân hay sơ, cả buôn làng có thể cùng góp của để một người tiếp đãi khách Buôn ta có khách đến thăm. Ai có ché con. Ai có chum nhỏ ché to, mang đến cùng tôi mời khách uống…Quan hệ đó tạo nên sự gắn kết và sức mạnh cộng đồng. Sức mạnh của người anh hùng có phần xuất phát từ quan hệ ứng xử tốt đẹp trong xã hội khan lúc bấy giờ. Và nó cũng đã tạo thêm cho sử thi Đam Săn đậm đà ý nghĩa nhân văn. Chỉ được nghe Khan một lần thôi, ấn tượng ấy mãi đọng lại trong tâm trí của mỗi người đọc không bao giờ dứt.

2.2. Sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh

Có thể nói rằng một nét độc đáo, gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người đọc khi tiếp xúc với trường ca Đam Săn đó là ngôn ngữ giàu hình ảnh, cách nói được ví von, hình tượng tràn ngập trong tác phẩm. Cách nói ấy gắn liền với nét cảm nghĩ của người Êđê và làm nên bản sắc riêng cho ngôn ngữ của sử thi Tây Nguyên.

Trước hết, ta thấy những hình ảnh rất quen thuộc vốn tồn tại trong thiên nhiên, trong cuộc sống của con người và những hình ảnh do con người tưởng tượng ra được các nghệ nhân đưa vào tác phẩm một cách hết sức phong phú, tự nhiên và sinh động. Từ những hình ảnh, sự vật, sự việc bình thường, đơn giản đến những hình ảnh siêu nhiên, do con người tưởng tượng ra như cái cầu thang, cái chày, cái cối, cái chiêng, cái trống, cái chà gạc, cái cột nhà, khăn, áo, khố điếu, hoa tai, giáo gươm, rìu đồng…có thể đưa đi đưa lại, đều bằng vàng… xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm.

Chẳng hạn như: Truh tơ sang Hbia Điêt Kluic. Đ^ ê`am dua “a\ng hla\m, kta\m adring dua “a\ng kđuh, kmeh kjuh jơ\ng đing đưng kơ yu\, đing đưng kơ ngo\. Ana\n truh kơ dlông, tiêt he\ kga\, đue\ nao tơ ôk.

Dịch nghĩa: Đam Săn đến nhà Hbia Điêt Kluik. Hai lần chồm lên, chàng leo lên hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn làm như vỗ cánh, bẩy vì cột nhà đung đưa sang tây. Vào đến trong nhà, gác chà gạc lên rồi, chàng đi thẳng vào trong“[16; tr.17]. Với đoạn văn trên ta thấy, hình ảnh cái cầu thang được nhân hóa, tưởng tượng như những vật có linh hồn, có thể chuyển động như mời gọi, đón tiếp khách quý vậy.

Khi nói về vẻ đẹp của người anh hùng Đam Săn, ngôn ngữ mô tả chàng mỗi lúc một khác với nhiều hình ảnh so sánh như: Đam Săn đỏ như hừng hơi men.Lúc anh cười miệng đỏ như dưa hấu, môi mỏng như lá tỏi. Cổ tru trơn như quả cà chín. Khi đi thì thoăn thoắt như con rắn prao huê. Khi ngồi giữa nhà như con hùm bên bờ suối, khi ngủ hơi thở như sấm vang, hàng có sức khỏe như con voi đực. Râu cằm anh mềm dẻo như dây guôl pang, râu cằm mềm dẻo như dây guôl pang“[12; tr.106]. Hoặc khi tả về sự giàu, danh tiếng của chàng “Ana\n ara\ng hing kma yang,ang kma cư\, hmư\ yu\ ngo\, u\n kkung hriê, kpiê kkung ba, tar bar Êđê êga lac êkei Dam Săn jho\ng knê\` krê\` ktang s^t djiê êku\t p^t a\mâo thâo kdu\n. Aba\n jao, ao h ô, buê knga cu\t, djăp mta kju đao mdi\ng mdo\ng gria\ asei mlei, ala\ mta Ihêc Ihêc djo\ gêc “ơ\ng ksing, mdro\ng mrâo jimg knô ang juang. Boh tih đơ êda, boh pha đơ êđai, ai tiê si êman knô, êwa bhô bhô si gra\m arơ\ng. Đih ku\p tơl joh adrung sang, đih đang tơl joh êyông, Dam Săn nga\ knhông mơ\ng tian ana.

Dịch nghĩa: Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe tiếng Đam Săn. Từ khắp mọi miền, người ta khiêng lợn đến. Cả miền Êđê Êga, ai ai cũng ca ngợi Đam Săn là một dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi. Ngực quấn tréo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm sọc sằn, tai đeo nụ, sát bên mình lỉnh kỉnh đủ thứ giáo gươm, đôi mắt linh lợi như mắt con choi choi ăn bùn non. Chàng hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy. Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức một con voi đực, hơi thở chàng ầm như tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gẫy sàn, nằm ngựa thì gẫy xà dọc. Đam Săn vốn ngang tàng từ trong bụng mẹ“[16; tr.57]. Chàng dũng sĩ Đăm Săn hiện lên trong sự khâm phục, ngợi ca cả buôn làng. Những hình ảnh từ cơ thể được so sánh, phóng đại: Miệng đỏ như dưa hấu, sức khỏe như co voi đực, hơi thở như sấm vang, bắp chân to băng cây xà ngang, nằm sấp thì gẫy sàn quả thật đó là sức mạnh, vẻ đẹp có phần cổ sơ, nhẹ nhàng, mềm mại, hoang dã, mộc mạc, giản dị, gần gũi với núi rừng với tiếng chiêng cồng Êđê thời cổ đại. Còn khi mô tả vẻ đẹp của Hơ Nhí và Hơ Bhí thì ngôn ngữ ở đây dùng rất nhiều hình ảnh cụ thể vừa trừu tượng như: Nàng đi đủng đỉnh thân mình uyển chuyển như cành cây blô sai quả, mềm dẻo như những cành trên ngọn cây, gió đưa đi đưa lại. Nàng đi như chim phượng hoàng bay, như chim diều lượn trên không, như nước chảy dưới suối. Người trong như nước trong ống, sáng như nước trong bầu… Nàng đẹp như ánh sáng mặt trời, như bầu trời nhấp nháy đầy sao. Ngón tay bà thuôn thuôn như lông nhím… Tóc nàng dài đến nỗi nếu thả ra thì dài xuống tận đất như một thác nước và che bóng râm như cả một cây kơnia…“[8; tr.773].
Đấy là vẻ đẹp nhẹ nhàng, uyển chuyển của con người vừa phàm tục đi lại dưới mặt đất vừa có nét đẹp của nàng tiên bay lượn trên không.

Và bước cao hơn một bước nữa là người ta thường diễn đạt bằng những hình ảnh tưởng tượng, đối với chúng ta có phần hoang đường nhưng lại cho chúng ta thấy cuộc sống tâm linh (tinh thần) của đồng bào Êđê.

Chẳng hạn: Khi miêu tả cảnh Đam Săn đi tới nhà nữ thần Mặt trời:


Ana\n nao yơh `u dê hla\m dliê mhrư\ cư\ mhrang, hlang tlo\ kiê, hwiê tlo\ jơ\ng, amâo ho\k “ơ\ng hua\. Nao nanao yơh hla\m dliê khương kmrơ\ng k’ hu\t, êku\t si mang si êku\t. Anei truh tơ car kbao wao klang “uôn Aê Du Aê Adiê, dơ\ng “uh mniê sa drei, êkei sa cô, “uh êlan êrô êbat djo\ dhul kwa\. Anei `u nao yơh dla\ng p^n êa, knang tơ gu\ da\ng kông, tơ dlông da\ng kwa\t, k”a\t êdi mi yơh “uôn ayo\ng kia\ yang hruê, adei kia\ yang mlan anei! Anôk di `u dôk, sa nah po\k cư\ bư\ êa kka\l truh tơ knhal la\n ho\ng adiê. Truh tơ sang mniê mlâo đa\m mâo ung. H’Kung dua Y Du kma dôk ho\ng yang hruê yang mlan. Ik ik êwa gra\m, a\m a\m êwa hjan, hmư\ êwa aseh êran bi kbr^ hruê amâo thâo kral mlam. Dla\ng tơ sang Yang Hruê, ê`an si kê` êro, “uh êsu\ng mah hlâo mah, hlâo sah mdro\ng ta\p “lê\c “lic.

Tru\n mơ\ng ro\ng aseh, kleh ưn, kpưn đ^ ê`an, leh ara\ng hing; jua\ adring, leh ara\ng “uh, truh tơ sang Yang Hruê. Dla\ng sang dlông awan, êman ju\m adring, cing bo\ gah, knah bo\ lam, hlu\n êdam êra si hnuê du\ chông, hông du\ mnga, êyông êda sai êa mah.Tar sang sah mdro\ng amâo amâo pô mse\. Tiêt kga\, pla\ tluôn dôk. Ara\ng êrô ôk gah trah dla\ng kơ êkei Dam Săn krưp mse\ si yang.

Dịch nghĩa:

Thế là Đăm Săn ra đi. Chàng đi hết rừng rậm đến núi xanh, cỏ tranh xé tay, gai mây đâm chân, không màng ăn uống. Chàng đi đi mãi, rừng núi quạnh hiu, vắng như không, không như vắng. Nhưng rồi chàng cũng đến được bãi thả trâu bò, rồi bãi thả diều làng Ông Đu, Ông Điê. Chàng thấy hầu như có bóng đàn ông một người, đàn bà một người. Sau đó là cảnh người đi đi lại lại như trong sương mù. Chàng liền đến bờ rào làng xem thì thấy dưới giăng dây đồng, trên giăng dây sắt, cảnh làng người anh giữ mặt trời, người em giữ mặt trăng quả là đẹp nhất! Chỗ hai anh em họ ở là một cánh núi ngăn một dòng nước đục chảy cho đến nơi đất giáp với trời. Chàng đi đến nhà cô gái không chồng, nàng Hơ Kung của chàng Y Đu, nàng thì đã vào ở giữ mặt trăng, còn chàng thì đã vào ở giữ mặt trời. Ở đây sấm nổ ầm ầm, mưa đổ ào ào, tiếng vó ngựa ngày đêm nghe rầm rập. Từ đây, Đăm Săn đứng ngắm ngôi nhà của Nữ Thần Mặt Trời. Cầu thang như cái cầu vồng. Cối giã gạo bằng vàng, chày cũng bằng vàng. Chày nhà tù trưởng giàu có này giã gạo trông cứ lấp la lấp lánh!. Đăm Săn xuống ngựa, tháo yên. Khi chàng nhoai lên lên cầu thang thì trong nhà người ta đã nghe. Khi chàng giậm chân bước trên sàn hiên thì trong nhà người ta đã thấy. Chàng vào nhà. Tòa nhà dài dằng dặc, voi vây chặt sàn sân, chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong, tôi trai tớ gái nư ong đi lấy nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, các xà ngang xà dọc đều thếp vàng. Khắp các nhà giàu có, không thấy đâu có một ngôi nhà nào như vậy cả. Đăm Săn gác chà gạc lên, rồi đến ngồi trên ghế. Người đi ra đi vào nhà trong nhà ngoài đưa mắt nhìn chàng, thấy chàng oai như một vị thần“[16; tr.70].

Đoạn văn trên là bức tranh do con người tưởng tượng và miêu tả trên cơ sở kết hợp những hình ảnh vừa có yếu tố thực vừa có yếu tố ảo. Trong đó, yếu tố thực là cái nền cơ bản còn yếu tố ảo là bề nổi khoác lên trên. Nếu lược bỏ đi những yếu tố ảo thì còn lại bức tranh hiện thực sinh động của thiên nhiên và cuộc sống của con người. Cách miêu tả ấy là sự kết hợp chặt chẽ giữa bút pháp hiện thực và bút pháp lãng mạn mà ta dễ bắt gặp, phổ biến trong ngôn ngữ của hệ thống sử thi Tây Nguyên.

Hiện thực được phản ánh trong đoạn sử thi trên vừa mang hơi thở sinh động của hiện thực cuộc sống cổ đại vừa lung linh, kỳ ảo của một hiện thực được phóng chiếu bằng sức tưởng tượng tuyệt vời của các nghệ sĩ dân gian. Tính hiện thực và huyền ảo kết hợp tạo nên đặc trưng thẩm mỹ cao cho sử thi. Nó tạo nên cảm giác đời thường lại vừa gây ấn tượng hoành tráng đến kỳ lạ.

Trong những hình ảnh tưởng tượng, hoang đường đó còn có các yếu tố thần linh (Yang, hay Ông Gỗn) đóng vai trò quan trọng trong các bản sử thi. Các Yang có hai loại: Loại thần linh tốt luôn giúp đỡ con người còn loại thần linh xấu luôn tìm cách hãm hại con người. Trong Khan Đăm Săn, nhân vật ông Gỗn (tức là ông trời của người Êđê) đã đóng vai trò khá quan trọng. Chính ông Gỗn đã can thiệp, ép buộc Đăm Săn phải lấy hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhị nhưng nhân vật anh hùng này không chịu can tâm khất phục trước áp lực của thần linh. Chàng đã dám đứng lên chống đối thần linh một cách quyết liệt thể hiện rõ qua đoạn đối thoại:

Aê Adiê – Ya klei ih cia\ng hriê kơh, ơ cô?

~a\t ka\n `u blu\ lei êkei Dam Săn. Anei Aê Adiê myơr brei ha\t. Anei `u kcao ti boh ko\ Aê Adiê.

Dam Săn- Kâo koh yơh ih, aê ah.

Aê Adiê- Ya kđi ih koh kâo kơh, ơ cô?

Dam Sa\n- Ya kđi kâo cia\ng koh ih? Kđi kâo iêu, ih amâo h’u\t; kđi kâo amâo hmư\; kđi kâo ba ceh cuh u\n kbao, ih amâo po\k “a\ng jang mniêng, ih amâo siêng “a\ng jang msei kơ kâo. Ơ aê, ơ aê, ih dla\ng êkei Dam Săn luh êa adu\ng bo\ chiên mnga, luh êa mta bo\ chiên kdrua\, luh êa ala\ tơl đoh ling a`uê. Ơ aê, djiê leh mô\ kâo tu\h êsei, mô\ kâo brei djiam, mô\ kâo m`am pkin aba\n kơ kâo. Mơ\ng knuê ung ih bi mdô\, mô\ ih mjing, cing char ih k”a\k, k”a\k, la\k cai ih bi gam. Ih aseh mgô\ trao, kbao mgô\ klei, êkei mniê ih mgô\. Tơ kâo amâo kha\p, tơ kâo amâo ư, ih lac kâo kue\ eh aseh êmô H’ ~^ H’ Bh^. Tơ kâo dôk H’~^ kơh, ih lac kâo sah pro\ng mdro\ng jing, cing lu char lu. Anei kâo cing hla\k duah, knah hla\k blei, hlu\n êkei mniê hla\k mâo, hlei be\ tu\h êsei brei djiam kơ kâo, m`am kpin ao kơ kâo ara\ anei, ơ aê?

Dịch nghĩa:

ÔNG TRỜI – Cháu lên đây có việc gì đấy?

Đăm Săn đứng lặng thinh, không nói không rằng. Ông Trời chìa thuốc mời, tức thì Đăm Săn tóm lấy đầu ông.

ĐĂM SĂN –Tôi chém ông đây này ông ơi!

ÔNG TRỜI- Chuyện gì mà cháu muốn chém ông vậy cháu?

ĐĂM SĂN – Chuyện gì mà tôi muốn chém ông à? Chuyện tôi kêu gọi ông, ông không thưa, chuyện tôi khóc tôi than ông không nghe. Chuyện rượu tôi đem cúng, lợn trâu tôi đem giết để làm lễ, mà cổng chốt ông không mở, cổng sắt ông vẫn đóng chặt. Ông ơi, ông hãy nhìn thằng Đăm Săn cháu ông này, nước mũi ròng đầy cả chén hoa, nước mắt rỏ ròng đầy cả bát sứ, lênh láng khắp chiếu chăn. Ối ông ơi, vợ cháu chết mất rồi, người vợ nấu cơm đơm canh, người vợ dệt khố dệt áo cho cháu chết mất rồi! Chính ông là người đã treo chiêng với cồng, trộn dầu với sơn, xe duyên chắp mối vợ chồng cháu. Chính ông đã ép ngựa phải chịu cương, ép trâu phải chịu thừng, ép duyên trai với gái. Cháu không ưng không chịu thì ông hăm cháu phải hốt phân ngựa phân bò cho Hơ Nhị, Hơ Bhị. Ông bảo cháu chỉ có lấy Hơ Nhị, Hơ Bhị, cháu mới trở nên một tù trưởng giàu có chiêng lắm la nhiều. Vậy giữa lúc chiêng cháu đang vui, la cháu đang sấm, tôi trai tớ gái cháu đang có này, ai là người nấu cơm đơm canh, ai là người dệt khố dệt áo cho cháu đây, ông? [16; tr.62].

Như vậy ta thấy, Ông trời (yếu tố thần linh) có vai trò quan trọng, ông Trời vừa có quyền uy, quyền lực đã can thiệp vào cuộc sống của con người. Hoặc tham gia vào việc điều hành tục lệ hôn nhân, thể chế xã hội. Hoặc tham gia vào sự thành bại trong công việc đấu tranh sinh tồn của buôn làng, con người luôn kính nể ngưỡng vọng thần linh. Như đoạn đối thoại trên, rõ ràng Trời vừa có sức mạnh siêu nhiên vừa có quyền uy đã buộc Đăm Săn và Hơ Nhị, Hơ Bhị phải thành vợ thành chồng mặc dù Đăm Săn không muốn. Khi Hơ Nhị, Hơ Bhị chết chàng Đăm Săn đã cầu cứu ông trời nhưng trời ông nghe, lúc trời nghe thấy Đăm Săn thì chàng đang giận trời vì Rượu tôi đem cúng, lợn trâu tôi đem giết thịt để làm lễ, mà cổng chốt ông không mở, cổng sắt ông vẫn đóng chặt
cuối cùng chàng có hành động và lời nói coi thường Trời chàng cả gan dọa chặt cả đầu Trời nếu như Trời không làm theo ý muốn của chàng. Và cao hơn nữa là chàng Đăm Săn Là tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang túi da nhưng Đam Săn vẫn khao khát đi lập chiến công vĩ đại dù phải từ bỏ tất cả. Từ bỏ hạnh phúc mà các vị tù trưởng khác đang mơ ước. Chính khát vọng đi bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ đã nâng Đam Săn lên ngang tầm vũ trụ, đã thôi thúc Đăm Săn đi tới nơi tận cùng của đất giáp với trời mặc cho bao người ngăn cản nhưng Đăm Săn vẫn quyết lao đầu vào cuộc thử thách mới đầy nguy hiểm này. Như vậy, ta thấy, mặc dù Trời có sức mạnh siêu nhiên, có quyền uy nhưng chàng Đăm Săn từ chỗ bị lệ thuộc vào thần linh, bị thần linh chi phối o ép, con người đã vươn lên chống đối lại thần linh, hơn thế nữa còn biểu lộ ý chí và sức mạnh chinh phục, chế ngự cả thần linh nữa. Đồng thời, ta cũng thấy, trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào Êđê, con người và thần linh có mối quan hệ gần gũi, bình đẳng với nhau, nhưng con người lại muốn lên ngang với thần linh. Đó cũng là đặc điểm hình ảnh thần linh trong sử thi Đăm Săn và hệ thống sử thi Êđê.

Ngoài việc sử dụng hình ảnh cụ thể, hình ảnh tưởng tượng hoang đường, các tác giả sử thi còn sử dụng các hình ảnh biểu hiện nội dung, một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất gọi là hình ảnh biểu trưng
[17; tr.6]. Như vậy, ta có thể hiểu biểu trưng là hình tượng từ ngữ có tính chất tĩnh tại, cố định, thường xuyên như là kí hiệu một hiện tượng đời sống. Chính lối nói diễn đạt dùng hình ảnh biểu trưng này làm cho câu văn thường ngắn gọn, xúc tích và vượt cấp về nội dung ý nghĩa. Các hình ảnh biểu trưng này thường có cấu tạo bằng một con số biểu trưng mà thường là con số 1, số 3, số 5, số 7 kết hợp với hình ảnh đi kèm.

Chẳng hạn đoạn văn Đăm Săn sai tôi tôi tớ của mình mang các đồ vật để cúng các vị thần linh như sau:

Ơ hđeh, ơ hđeh, ma\ kbao ka\ kpiê nga\ yang! Kpiê êma kbao tlin kơ atâo, kpiê kjuh kbao knô kơ asei kâo. Kâo tui duah kuah “uh, tui êmuh k`a mô\ kâo.

Dịch nghĩa: Ơ các con, ơ các con, hãy đi bắt trâu cột rượu về đây làm lễ. Lấy rượu năm ché, trâu sổi một con để cúng tổ tiên, rượu bảy ché, trâu đực một con để cúng sức khỏe cho ta! Ta sẽ đi lùng đi sục, đi dò cho kỳ được thấy vợ ta
[16; tr.49].
Các con số và hình ảnh đi kèm theo làm nên những hình ảnh biểu trưng vừa có ý nghĩ tả thực nhưng lại vừa có ý nghĩa biểu hiện một ý niệm khái quát nào đó của con người hoặc không có ý nghĩa nào. Ở đoạn văn trên, các con số 5 và số 7 ngoài ý nghĩa tả thực là phải yêu cầu phải có đủ số lượng để cúng các vị thần phù hộ Đam Săn đi đánh Mtao Grự thì còn có ý nghĩa chỉ sự kính trọng của con người đối với sự thiêng liêng của thần linh.

Hình ảnh biểu trưng còn gắn với những hình ảnh cụ thể, sở dĩ có lối diễn đạt này là do người Ê đê thường thích dùng cách nói để nhấn mạnh sự vật, sự việc được đề cập đến như: Một đoạn, một ngày, một đêm, một chiều, một sáng, một lát, một chiếu, một đốt mía, một quả chuối, baỷ ché rượu, bảy trâu, trâu đực một con… đó chính là những cách nói mang giá trị nghệ thuật biểu trưng cho từng thời gian, công việc được nói đến tạo cảm giác cuốn hút người giao tiếp mà không hề tạo cảm giác nhàm chán khi lặp lại.

Hình ảnh biểu trưng còn bao gồm cả những con thú quen thuộc gắn bó với cuộc sống con người như: Con voi, con trâu, con bò, con sóc, con khỉ, con gà, con ngựa, chim ngói, vv ….nhưng lại được đặc tả theo một cách nói riêng độc đáo chẳng hạn: Con gà diều tha, con vẹt diều mổ… có khi hiện lên trong toàn bộ sử thi lại là hình ảnh của những loài cây, loài quả không chỉ cung cấp nguồn lương thực cho con người tồn tại và hòa nhập cùng cuộc sống thiên nhiên mà còn ẩn hiện trong đó là những vẻ đẹp giản dị mà rất độc đáo của miền núi rừng Tây Nguyên chẳng hạn như: Rừng hoa klông kpang đang nở rộ, giã gạo cho trắng như hoa êpang, gốc cây klông, cây chuối, vv…Có khi đó lại là các đồ vật của con người được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sử thi như: Cái gùi, chà gạc, ché rượu, vòng tay, con cúi, cái cồng, cái chiêng, con diều, vv….đó là những đồ vật, con vật biểu trưng cho chính đời sống tinh thần của cộng đồng người Ê đê.

Cách nói trong sử thi mang tính biểu trưng tạo nên sự khác biệt hết sức độc đáo chân thật giữa dân tộc Êđê với các dân tộc khác, chẳng hạn như: Đue\ w^t kơ gah, cuh mnu\ ana kra\m, ca\m mnu\ ana mboh, hroh braih mtih mse\ mnga êpang, ang mse\ yang hruê. Kna\ esei sa kcuh êa bah, sa djah êha\ng, bhia\ng ria\ng ksa\. Ma\ kơ gu\, pu\ kơ tria, ba hlao bi jơ\ng, prơ\ng knac grio\, do\ pu\, gu\ êsei djam kơ tuê sah mdro\ng.

Dịch nghĩa: Hơ Lị trở lại nhà khách, đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, bắc nồi cơm lên nấu cơm, vừa ráo một bãi nước miếng, vừa dập một bã trầu, cơm đã chín tới” [16; tr.8],
Hỡi nghìn chim sẻ, hỡi vạn chim ngói, hỡi tất cả tôi tớ của ta, Ơ các con, ơ các con
[16; tr.35]. Những hình ảnh biểu trưng trên chỉ cách nấu cơm, nấu ăn của chủ nhà dành cho khách rất đặc biệt, rất riêng của đồng bào Êđê. Và hình ảnh “Nghìn, vạn chim sẻ, chim ngói’” đây chỉ những người nô lệ của Mtao Grự. Như vậy ta thấy cách nói của họ rất riêng như từ ơ, hỡi tạo cảm giác thân thiết giữa người chủ và người nô lệ, họ sống tập thể cộng đồng cùng yêu thương bảo vệ lẫn nhau.

Hình ảnh biểu trưng còn để miêu tả cuộc chiến dũng cảm, sức mạnh phi thường của người anh hùng Đăm Săn và Mtao Grứ như sau:

Anei Dăm Săn ghat myơ\ng. Ghat ti gu\ m`ê dang kông, ghat ti dlông m`ê dang kê`. Ghat dê` wê`. Cư\ tlâo tal kblang, hlang tlâo dang kbuic. Êran đhêo đhêo hja\n, amâo pô hmao.

Anei tuc kruc Mtao Grư\ mdê\c kơ kju mdre\ we\, ko kju mdriêng wiêng, kơ kju briêng gam, kju k`a\m pha jia\ng. Anei `u phưi tlo\, mla\k djo\ tơ u\n krêo `u.

Dịch nghĩa:

Đăm Săn rung khiên múa. Chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Chàng múa lên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Chàng múa chạy nước kiệu, ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay. Chàng chạy vun vút một mình không ai sánh kịp.

Còn Mtao Grự bước cao bước thấp, chạy trốn mũi giáo thần, mũi giáo dính đầy những oan hồn của Đăm Săn. Hắn nhằm đùi của Đăm Săn phóng cây giáo của hắn tới, nhưng chỉ vừa trúng một con lợn thiến“[16; tr.37].

Trong đoạn trích này con số 3 không mang ý nghĩa tả thực mà chỉ có ý nghĩa biểu trưng cho sức mạnh của người anh hùng Đăm Săn.

Hầu hết các hình ảnh khi đi vào ngôn ngữ sử thi chính là phản ánh đời sống con người và cảnh sắc miền núi rừng Tây Nguyên. Chẳng hạn, bức tranh cuộc sống giàu có, đông đúc của buôn làng Êđê qua đoạn:

Trah dla\ng anôk “uôn êkei Da\m Sa\n mse\ ro\ng krua, ala hma tloh da\ng cư\, êmô kbao “hư\ “huôr si muôr hla\m. Êlan dêo sa yơr kga\, êlan hnua\ sa yơr kju. Kru aseh êman si “ô` klei, hlu\n êkei êdam sô\ đah da, hlu\n mniê êra sô\ ksâo. Myâo đei yơh, m’ak đei yơh “uôn ara\ng anei! Kru aseh mse\ jơ\ng êpan, kru êman mse\ tluôn êsu\ng, k”u\ng k”iê mse\ “la\ kmrơ\ng. Awan sang `u sa êwa cing, ênue\ adring `u sa êwa c^m phiơr. Gơ\ng mrai c^m bh^ ktông, c^m jông `u gam, knhal chia\m “lak brung.

Dịch nghĩa:

Họ phóng tầm mắt ngắm làng Đam Săn. Nơi dựng làng trông như cái mai rùa, rẫy giăng khắp núi. Trâu bò nhi nhúc như bầy mối, bầy kiến, đường đi bên phải rộng một với giáo, đường đi bên trái rộng một với chà gạc, dấu chân ngựa, chân voi như bện dây thừng, nô lệ trai ngực đụng ngực. Nô lệ gái vú sát vú. Cảnh làng chàng Đam Săn trông thật là vui, là đẹp! Dấu chân ngựa nhiều như dấu chân con rết. Dấu chân voi như trôn cối giã gạo, nồi bung nồi bảy như ốc sên rừng. Nhà dài cả một hơi chiêng, sàn sâu rộng cả một hơi chim bay, trên cột phơi chỉ thì nào chim bhi chuyền, nào chim nhồng đậu, nào các tà vải sọc sằn đủ màu phấp phới bay
[16; tr.7]. Đoạn văn trên quả là bức tranh sinh động của đồng bào Tây Nguyên trong thời kì tiền giai cấp, trong đó nổi lên khá rõ những nét điển hình, tiêu biểu cho cuộc sống trù phú của buôn làng, được các nghệ nhân cảm nhận một cách tinh tế, sâu sắc, miêu tả chính xác. Sở dĩ người ta so sánh hình ảnh Làng dựng trên một ngọn đồi lum lum như mu rùa là vì mặt đất Tây Nguyên không bằng phẳng và cũng không dốc mà có nhiều đồi núi thoai thoải nối tiếp nhau, hay là so sánh hình ảnh Trâu bò nhi nhúc như bầy mối, bầy kiến là vì xưa kia, việc chăn nuôi gia súc của các dân tộc Tây Nguyên rất phát triển, thành từng bầy, từng đàn và nó trở thành một nghề chính trong nền kinh tế của họ, hình ảnh Trâu bò nhi nhúc như bầy kiến, bầy mối cũng cho ta thấy cảnh sống giàu có của buôn làng Êđê. Không gian lao động và không gian quan hệ đời thường này tạo nên vẻ đẹp yên bình, sung túc của những buôn làng giữa lòng đại ngàn Tây Nguyên: Những buôn làng xa vắng, với cuộc sống vốn yên tĩnh, hầu như chìm đắm trong cảnh núi rừng mênh mông bát ngát của Tây Nguyên được ngôn ngữ cụ thể phả vào một sức sống rộn ràng biết bao! Đó là những hình ảnh cụ thể của sự vật, có khối đập vào thị giác. Còn những âm thanh như tiếng chim, tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng suối… vốn là những cái vô hình, cũng được các tác giả dùng ngôn ngữ hình ảnh để vật thể hoá nó, tạo cho người đọc và người nghe có cảm giác như mắt nhìn thấy được âm thanh đang hoạt động, tác động đến mọi vật:

Tông cing mung cing mai, cing tlai pra\, tông “ia\ “ia\ hra\ car `u nao. Tông tơ gu\ suôr mbông, tông tơ dlông suôr êda, kra hwa wơr hdjai adhan kyâo, ksơ\k mtâo wơr nga\ kơ mnuih, kkuih prôk wơr kuai “a\ng, prao ju\ prao jua\ng đ^ rang kơ dlông, đuah dôk bi ngai, pai dôk bi kngo\ng, kto\ng dôk bi kngưn, amâo wa\n kpưn “ơ\ng rơ\k ktơ\k, kma\ng hơ\k kdơ\k dôk hmư\ cing H’~^, H’Bh^“.

Dịch nghĩa:

Hãy đánh những tiếng chiêng có âm vang, những tiếng chiêng có tiếng đồng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non. Hễ đánh lên là ở dưới rung lên các xà máng, là ở trên rung lên các cây xà ngang, là khỉ quên đu cây, ma quỷ quên hại người, sóc chuột quên đào hang, rắn mai đều chui lên nằm trên mặt đất, là hoẵng đứng ngẩn, thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ, tất cả đều mải vui với tiếng chiêng của Hơ Nhị Và Hơ Bhị, chẳng còn màng nhoài đầu ra ăn cỏ
[16; tr.6,7].

Đoạn văn đầy hình ảnh sinh động trên đây làm cho mắt ta như thấy được tất cả không gian cũng như cuộc sống của mọi vật đều ngưng đọng lại trước sức hút kì lạ của tiếng chiêng. Ở đây ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng rất đắc địa, dường như tạo nên một thứ ma thuật nào đó khiến cho các cảm quan trong con người (thị giác và thính giác) có một sự giao lưu hài hòa, nhạy bén lạ thường. Đồng thời đoạn văn trên đã vật thể hóa sức vang của tiếng chiêng để biểu hiện cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của buôn làng, cảnh hội hè đông vui với tiếng chiêng vang không ngớt giữa núi rừng Tây Nguyên bao la hùng vĩ.

Ta thấy cách miêu tả hiện thực khách quan ở các đoạn trích trên chịu ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật thần thoại: Hiện thực được phóng chiếu bằng cảm quan lãng mạn, thần kỳ. Do vậy, vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng Tây Nguyên trở nên rực rỡ, cảnh núi rừng vốn mênh mông lại càng mênh mông hơn, giàu có lại giàu có hơn… Công việc kiếm sống gian khó trong đời thường bỗng trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả; nương rẫy rộng bao la, con người dễ dàng săn bắt được nhiều thú dữ, của cải vật chất vốn hiếm trở nên nhiều vô kể, cuộc sống ấm no, hội hè liên miên, khách tứ xứ đến ăn dầm ở dề mà chủ nhà vẫn vui. Cách miêu tả cuộc sống sung túc trong sử thi làm nên một không gian nghệ thuật vừa hiện thực vừa huyền ảo-lãng mạn thể hiện khát vọng lý tưởng thời đại.

Trong sử thi Đăm Săn, ngôn ngữ hình ảnh không chỉ được sử dụng để khắc họa các nhân vật, hoặc để mô tả những cảnh lớn như cảnh sinh hoạt nhộn nhịp của buôn làng, cảnh hội hè đông vui với tiếng chiêng không ngớt mà ngay những lời giao tiếp trong hàng ngày cũng được diễn đạt bằng lối nói hình ảnh sống động. Như lời nói của Y Dhing nói với chị của Đăm Săn, khi hỏi Đăm Săn về làm chồng cho Hơ Nhị: Hmei hriê anei hnuê kơ chông, hông kơ mnga, anak êdam êra kơ ha\t êha\ng.

Dịch nghĩa:
Chúng tôi tới đây như ong đến với nước, như vò vẽ đến với hoa, như trai gái đi tìm trầu tìm thuốc mà!
[16; tr.10].

Như vậy, dùng ảnh cùng với những đặc điểm sử dụng của nó theo cách nghĩa cụ thể của người Êđê đã tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn đặc biệt cho sử thi Đăm Săn. Trong khi đó anh hùng ca Iliat và Ôđixê của Hôme được các nhà nghiên cứu trên thế giới cho là mẫu mực cổ điển của thể loại anh hùng ca. Cũng với lối văn tự sự hấp dẫn và bằng nghệ thuật ngôn ngữ giàu hình ảnh đã miêu tả tỉ mỉ, chi tiết tạo ra những bức tranh sinh động về các hoạt động xã hội, của con người thời cổ sơ hết sức độc đáo và hấp dẫn. Có điều trong khi kể truyện, Hôme vừa coi trọng ngôn ngữ hình ảnh vừa coi trọng ngôn ngữ của sự kiện. Chẳng hạn trong tác phẩm Ôđixê có đoạn miêu tả những sự kiện dồn dập để gợi lên một cảm xúc mãnh liệt về nỗi buồn cô đơn, nhớ quê nhà của chàng Ulixơ:

Tuân lệnh Zớt, vị nữ thần sông núi oai nghiêm đi tìm Ulixơ. Nàng thấy người anh hùng đó ngồi trên bờ biển, nước mắt chan hòa. Cuộc đời êm dịu của người mòi mỏi trôi qua trong nỗi buồn không trở lại quê hương vì vị Nữ thần sông núi không làm cho người say đắm nữa. Đêm đêm, người buộc lòng nằm cạnh nàng trong động, nhưng người không còn chia sẻ mối tình nàng. Ban ngày người ra ngồi trên những phiến đá ở bờ biển, lòng tan thành nước mắt và lời than vãn đau thương. Người đăm đăm nhìn ra biển khơi luôn luôn chuyển động mà khóc dầm dề
[19; tr.6].

Sử thi Đăm Săn cũng có đọan văn tự sự miêu tả tâm lí của nhân vật nhưng ở đây lại ưa dùng nhiều hình ảnh để miêu tả nhân vật. Chẳng hạn miêu tả Đăm Săn:

Ana\n ara\ng hing kma yang, ang kma cư\, hmư\ yu\ ngo\, êkei Da\m Sa\n jho\ng knê` krê` ktang s^t djiê êku\t p^t amâo thâo kdu\n. Aba\n jao, ao h’ô buê knga cu\t, dja\p mta kju đao md^ng mdo\ng gria\ asei mlei, ala\ mta Ihêc Ihêc djo\ gêc “ơ\ng ksing, mdro\ng mrâo jing knô ang juang. Boh tih đơ êda, boh pha đơ êdai, ai tiê si êman knô, êwa bhô bhô si gra\m arơ\ng. Đih ku\p tơl joh adrung sang, đih đang tơl joh êyông, Dăm Săn nga\ knhông mơ\ng tian ana.

Dịch nhĩa:

Đăm Săn quả là thật là một tù trưởng oanh liệt, dũng cảm hùng cường, danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đam Săn. Chàng là một dũng tướng chắc chết mười mươi vẫn không lùi. Ngực quấn tréo một tấm mền chiến, mình khoắc một tấm áo sọc rằn, tai đeo nụ, sát bên mình lỉnh kỉnh giáo gươm, đoi măt linh lợi như mắt con choi choi ăn bùn non. Chàng hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy. Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi chàng to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gẫy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gẫy xà dọc: Đam Săn vốn đã ngang tàng từ trong bụng mẹ” [16; tr.57].

Ta thấy hình tượng Đam Săn được miêu tả bằng cái nhìn ngưỡng mộ của nhân dân, từ bên dưới nhìn lên sùng kính, tự hào. Đó là vẻ đẹp và sức mạnh của người anh hùng, thể hiện sức mạnh của cả thị tộc, sự thống nhất và niềm tin của cả cộng đồng. Chàng Đăm Săn được cộng đồng tôn vinh tuyệt đối.

Tóm lại, ta có thể nói đặc điểm sử dụng hình ảnh trong sử thi Đăm Săn được thể hiện khá phong phú, đa dạng và được sử dụng theo những kiểu cách riêng: Sử dụng hình ảnh vừa thực vừa ảo, sử dụng hình ảnh kết hợp với các con số biểu trưng, sử dụng hình ảnh để vật thể hóa những sự vật…đã góp phần quan trọng làm nên vẻ đẹp độc đáo và trường cửu cho tác phẩm sử thi Đăm Săn. Đến nay với cách diễn đạt trùng điệp những hình ảnh, hình tượng, đặc điểm sử dụng của nó vẫn làm người cho bao người đọc rung động.

2.3. Sử dụng ngôn ngữ giàu tính kịch

Kịch (tiếng pháp: drame) là một trong ba phương thức cơ bản của văn học (kịch, tự sự, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để diễn là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phương diện văn học của kịch. Song nói đến kịch là phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và bằng lời nói. Kịch được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung đột mang tính chất toàn nhân loại [5; tr.167].

Tính kịch cũng là một đặc tính cơ bản của ngôn ngữ sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng. Với ngôn ngữ mang tính kịch nghệ nhân dân gian đã tạo ra những màn tương phản, gây ra tình huống kịch khá sinh động, làm nổi lên những tính cách khác nhau của các nhân vật. Trong đó ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật chiếm phần lớn trong tác phẩm. Đối thoại tức là nói với nhau, nhưng không phải nói với nhau là có đối thoại trong kịch. Bêlinxki: Tính kịch không phải là do có nói qua lại mà tạo nên được, nó phải do hành động giao lưu sinh động giữa hai người mà tạo thành. Nếu cả hai bên tranh luận đều muốn đè bẹp đối phương, đều muốn cải biến một phương diện nào đó trong hành động của đối phương, nếu thông qua cuộc tranh luận đó đưa hai người tới một quan hệ mới, thì lúc đó mới là kịch“. Nói một cách khác, đối thoại trong kịch phải mang một nội dung tấn công- phản công, tham dò- lảng tránh, chất vấn- chối cãi, thuyết phục- phủ nhận, đe dọa- coi thường, cầu xin- từ chối…. Chẳng hạn cuộc đối thoại giữa Đam Săn và Mtao Grứ trong cuộc đọ sức để giành lại H’ Nhị:

Mtao Grư \- Lui jia\ng, lui, lui kao tru\n! Đa\m o\ng tlo\ êjai kâo tru\n.

Da\m Sa\n – Ya kao tlo\\ êjai o\ng tru\n? Ang u\n o\ng hla\m war, “uh kao mtlo\?

Mtao Grư\ – Ơ jia\ng, ơ jia\ng, đa\m o\ng tlo\ êjai kâo nao.

Da\m Sa\n – Ya kao tlo\ êjai o\ng nao? Ang kbao o\ng hla\m war, “uh kâo mtlo\?

Dịch nghĩa:

Mtao Grự – Ấy khoan, diêng, khoan! Để ta xuống. Không được đâm khi ta đang xuống đó, nghe!

Đăm Săn – Sao ta lại đâm diêng khi diêng đang xuống! Diêng xem, cả con lợn của diêng ở trong chuồng, nào ta có thèm đâm đâu!

Mtao Grự – Ơ diêng, ơ diêng, không được đâm ta khi ta đang đi đó nghe!

Đam Săn – Sao ta lại đâm diêng khi diêng đang đi! Diêng xem, cả con trâu của diêng ở trong chuồng, nào ta có thèm đâm đâu!
[16; tr.36].

Đoạn đối thoại trên cho ta thấy, nổi bật hai tính cách khác nhau. Nhân vật anh hùng Đam Săn có khí thế hiên ngang, có những hành động, cách sử xự rất anh hùng, còn Mtao Grự thì nhút nhát, lo sợ chết. Khi đánh nhau, Đam Săn có cách sử xự rất quân tử không đánh lén đối phương khi đối phương đang gặp trở ngại.

Hoặc thông qua việc mô tả ngoại hình của các nhân vật: Cùng là một tù trưởng hùng mạnh, nhưng Mtao Mxây (kẻ đối địch của Đăm Săn) được diễn tả như sau:

Siam êkei Mtao Msei yang brei kơ mdro\ng, hnuh klo\ng bo\ miêng “a\ng jang. Mlâo boh tih mse\ ara\ng kga, mlâo boh pha djo\ ara\ng tlua\, mlâo ala\ djo\ ara\ng cuih bi kra\ng, da\ng bi krêc. _ô\ mta si pruih êa cua\, si ria\ êa “a\l, kbao mcah pa\l amâo jho\ng ga\n ti ana\p.

Dịch nghĩa:

Mtao Mxây là một tù trưởng xinh trai thần ban cho cái giàu, gông cum đầy ắp hai bên cổng làng. Lông chân hắn như chải, lông đùi hắn như chuốt,lông mi như trui cứng giăng đều. Mặt hắn như hừng hơi men, như hầm trong nước vang, trâu tơ thấy cũng không dám qua trước mặt”[16; tr.42]. Trước mắt ta thấy, rõ ràng đây là chân dung của một kẻ hung bạo, tàn ác, trông có vẻ dữ tợn, ghê sợ đến nỗi con vật mạnh mẽ như con trâu cũng phải sợ hắn kia mà! Còn Đăm Săn thì lại được miêu tả:

Ana\n ara\ng hing kma yang, ang kma cư\, hmư\, yu\ ngo\, u\n kkung hriê, kpiê kkung ba, tar bar Êđê êga lac êkei Da\m Sa\n jho\ng knê\` krê` ktang s^t djiê êku\t p^t amâo thâo kdu\n. Aba\n jao, ao h’ ô buê knga cu\t, dja\p mta kju đao md^ng mdo\ng gria\ asei mlei, ala\ mta Ihêc Ihêc djo\ gêc “ơ\ng ksing, mdro\ng mrâo jing knô ang juang. Boh tih đơ êda, boh pha êdai, ai tiê si êman knô, êwa bhô bhô si gra\m arơ\ng. Đih ku\p tơl joh adrung sang, đih đang tơl joh êyông“.

Dịch nghĩa:

Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, đông tây đâu đâu cũng nghe danh tiếng Đam Săn. Từ khắp mọi miền, người ta khiêng lợn đến. Cả miền Êđê Êga, ai ai cũng ca ngời Đam Săn là một trang dũng tướng chắc hết mười mươi vẫn không lùi. Ngực quấn chéo một tấm mền chiến, mình khoác một tấm áo sọc sằn, tai đeo nụ, sát bên mình lỉnh kỉnh đủ mọi thứ giáo gươm, đôi mắt linh lợi như mắt con choi choi ăn bùn non. Chàng hiện ra là một trang tù trưởng mới giàu lên, đang tràn đầy sức trai, tiếng tăm lừng lẫy. Bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bễ, sức chàng ngang sức con voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gẫy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gãy xà dọc” [16; tr.57]. Như vậy, ta thấy hình ảnh của Đăm Săn hiện lên với tư thế oai phong lẫm liệt, có uy danh lừng lẫy khắp nơi, đối lập hẳn với kẻ đối địch tuy mạnh nhưng hung ác.

Tính kịch còn thông qua việc tạo những tình thế tương phản. Chẳng hạn như trong khi Đăm Săn đang dẫn cả làng đi bắt cá dưới suối, đi săn thú trên rừng thì Mtao Grự hùng hổ kéo quân đến cướp vợ của Đăm Săn, Chỉ có mình nàng ở nhà“.

Như vậy, ta thấy ngôn ngữ kịch được thể hiện qua nhiều biện pháp sinh động, chủ yếu là thông qua biệp pháp đối lập trong ngôn ngữ đối thoại, hoặc trong mô tả ngoại hình nhân vật, hoặc trong cách dựng lên tình thế tương phản. Những biện pháp đối lập về mặt ngôn ngữ đó đã giúp diễn đạt một cách rõ ràng, mạnh mẽ nội dung tư tưởng của sử thi, ca ngợi nhân vật anh hùng, phê phán kẻ thù của họ. Khẳng định người anh hùng lý tưởng của nhân dân và phủ định kẻ thù, đối lập lại lí tưởng của nhân dân.

Tính kịch trong ngôn ngữ sử thi Đam Săn, thể hiện trước hết ở hình thức hát kể, ngoài ra, ta thấy tồn tại khá nhiều những lời nói đối thoại trực tiếp hay những lời nói có chức năng dẫn chuyện. Với những đoạn sử thi như vậy thì nghệ nhân không hát mà thể hiện bằng hình thức nói, nhưng đây là hình thức nói được diễn xướng trước tập thể, trước đám đông theo lối tự sự dân gian. Hình thức nói được xuất phát từ lối nói thông thường, hằng ngày nhưng được nâng lên giàu cảm xúc và ngữ điệu phù hợp với tâm lí, tính cách của nhân vật trong tác phẩm. Nó khác với lối nói giao tiếp hằng ngày ở chỗ ngữ điệu và cảm xúc diễn ra tự nhiên, thoải mái theo hướng cá thể hóa qua lời nói. Chẳng hạn đoạn văn của lời nói mang nội dung ý nghĩa dẫn chuyện để giúp người nghe nắm khái quát được nội dung câu nói: Đến đầu năm mới, người ta đến rất đông uống rượu và ăn thịt lợn thịt trâu” [17; tr.14]. Ngoài ý nghĩa chuyển tiếp, lời nói trong sử thi còn là những lời nói miêu tả sự vật, con người và tự nhiên với lối nói diễn đạt có tính thẩm mĩ cao, nó gần như lời tự sự thường thấy trong truyện dân gian. Chẳng hạn lời nói mang tính chất tự sự về những hành động của hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị đi đến nhà Đam Săn:


Ana\n đue\ nao truh tơ sang Dăm Săn. Chia\p êman tơ adring, mting êman tơ ê`an. Cha\r H’~^, cha\r H’Bh^ tơ adring. Sa êtuh êlâo, sa êbâo êdei, sa drei H’~^, H’Bh^ tơ krah. _luôt ana\n dôk tơ kpiêt djuh. H’~^, H’Bh^ “luôt dôk tơ kpiêt djuh mơh.

Dịch nghĩa:

Rồi hai chị em đi thẳng đến nhà Đam Săn. Voi áp vào sân nhà, đứng xếp hàng ở cầu thang. Hơ Nhị và Hơ Bhị nhảy gọn xuống nhà. Trăm tôi tớ đi trước, nghìn tôi tớ theo sau. Hơ Nhị và Hơ Bhị đi ở giữa. Bọn tôi tớ len vào đứng ở xó củi. Hơ Nhị và Hơ Bhị cũng len vào đứng ở xó củi” [16; tr.16]. Đoạn văn trên cho ta thấy, lời nói trong sử thi rất đơn giản, gần gũi với lời nói thường ngày, có cấu trúc tự do, có những yếu tố nghệ thuật về ngôn ngữ văn chương.

Phần nhiều trong ngôn ngữ sử thi Đam Săn là lời hát. Lời hát ở đây rất đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức được các nghệ nhân hát với nhiều hình thức khác nhau. Chẳng hạn như lời hát ca ngợi vẻ đẹp hào hùng, kỳ vĩ về cây thần, cây sinh ra linh hồn hai chị en Hơ Nhị và Hơ Bhị:

Kyâo smu\k yơ\ anei, kyâo smu\n, phu\n amâo “uh, êdu\k amâo mâo, kyâo thâo mjing H’~^, H’Bh^. Ana\n kyâo smu\k, ngo\ sang, kyâo “lang yu\ adring, kyâo thâo mjing H’~^, H’Bh^. Phu\n hla\m êa, ana hla\m dhông, kyâo k’uh k’ ông, ana\n amâo thâo kral. Phu\n sa thu\n ddarr, adhan sa mlan ktông, hla sa êwa c^m phiơr. Phu\n êa, ana hla\m dhông, dhông amâo dhông, đu\t amâo đu\t man mu\t adiê. Phu\n hla\m êa, ana hla\m dhông, kyâo Tông Lông bhia\n mâo mơ\ng đưm. Phu\n `u Aê Adiê pla, ana `u Aê Adu mbu\, kyâo cia\ng ru\ cia\ng pro\ng hja\n. Kyâo k’uh, kyâo k’ông, kyâo “a\ng dhông “a\ng troh, pha\ be\ `u joh, pha\ be\ `u le\ kyâo myang.

Dịch nghĩa:

Cây này là cây smuk, những cây gốc không thấy, ngọn kông có, những cây đã sinh ra Hơ Nhị và Hơ Bhị đó, ông ạ. Đó là cây smuk ở phía đông nhà, là cây blang ở phía tây hiên, những cây đã sinh ra Hơ Nhị và Hơ Bhị đó, ông ạ. Đó là những cây gốc trong suối thân trong thung, bóng rợp cả một vùng, tên gọi gì không rõ. Gốc cây người đi quanh phải một năm, cành cây chim chuyền phải một tháng, tán cây chim bay hết một hơi. Gốc cây trong suối, thân cây trong thung, cây cao không cao, thấp không thấp, đủ chọc đến trời. Gốc trong suối, thân trong thung, đó là cây Tông Lông vốn có từ xưa. Thân do trời trồng, gốc do trời vun, tự nó vực dậy, tự nó vươn lên. Đó là một cây cành lá xum xuê, một cây của vực thẳm khe sâu, gẫy phía nào không rõ, ngã phía nào không hay. Cây thần đó ông ạ” [16; tr.58].

Lời hát còn dùng để biểu hiện sự tiếc thương của người ở lại dành cho người đã khuất thì có tính chất kể lệ, buồn bã, đau xót. Chẳng hạn như lời khóc than của Hơ Nhị khóc Đam Săn:

Ơ nuê wơi, lưh phu\n mnu\t, kdlu\t phu\n hra, tar Bih Mnông amâo mâo pô sah pro\ng mdro\ng ana đua kưn kdu\ng si ih! Ih cing gan êman gư\ ktư\ pô kna, kâo m^n ih djiê ku\t dlông bông ja\k, êna\k thu\n mlan. Anei ih le\ he\ hla\m La\n Hl^n Ju\. Ara\ng hing kma yang ang kma cư\, hmư\ ju\ ngo\ ih cing lu char lu. Anei êsei kâo krô hla\m êlu\, mnu\ kâo krâo hla\m knhang, asei toh êwang mse\ grư\ knô, kơyua dah ih djiê hla\m klông êlan Hl^n Ju\.

Dịch nghĩa:

Ơ nuê ơi! Thế là cây đa không còn nữa, cây klông đã đổ rồi! Khắp vùng Bih vùng Mnông, đâu còn một tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa như nuê nữa! Nuê giàu có voi đàn chiêng đống, tưởng đâu nuê được chết bia cao hòm tốt. mồ mả được thăm viếng tháng năm. Ngờ đâu nuê lại rơi vào vùng Đát Sáp Đen! Danh vang đến thần, tiếng lừng khắp núi, nghe đông tây đâu cũng nói nuê có chiêng lắm la nhiều. Thế mà nuê lại chết dọc sá dọc đường trong Rừng Đất Sáp Đen, để cơm em khô trong bát, gà em quắt lại trong xiền, thịt xác ra như thịt con kên kên đực” [16; tr.74].

Lời hát trong sử thi còn dùng vào việc cúng thần linh, lời hát ở đây được thể hiện với sắc thái trân trọng, kính nể của người cúng, vừa hư vừa thực mang màu sắc huyền ảo:

Hỡi các vị thần trên thế gian này! Ta cho chim nghiếc đến gọi, chim krâu đến kêu, chim cút đến mời và ta cho bầy chim blê đến báo cho người. Nếu các anh Đam Di trọn vẹn về sức khỏe thì bằng một tiếng, ta gọi bến nước ăn phải gào thét, cổng làng phải lồng những then cài” [17; tr.15].

Ta thấy, lời hát ở trên đây có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố thần kỳ của siêu nhiên và yếu tố hiện thực, cụ thể trong cuộc sống hằng ngày. Mặc dù lời hát còn đơn điệu, nghèo nàn, nhịp điệu chưa chặt chẽ, thể thức bài hát chưa thật rõ ràng nhưng đấy lại là một loại hát mang tính cộng đồng cao trong thời kỳ xã hội tiền giai cấp. Vì thế có thể nói hát sử thi từ lâu đã là một món ăn tinh thần hấp dẫn không thể thiếu được trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc Tây Nguyên nói chung và đồng bào Êđê nói riêng. Và theo chúng tôi, sự kết hợp giữa hình thức nói và hát trong quá trình biểu diễn sử thi làm cho ngôn ngữ của thể loại văn hóa dân gian độc đáo này mang tính kịch.

Một đặc điểm khác cũng tạo nên tính kịch cho ngôn ngữ sử thi, đó là sự hỗ trợ bằng hành động diễn xuất của người nghệ nhân. Họ không chỉ là người cho Cái môi cái môi cái miệng để thuộc, nhớ và hát nhiều sử thi khác nhau mà trong quá trình biểu diễn, hát, kể sử thi, họ giơ tay hoặc đi đi lại làm điệu bộ để diễn tả hành động của nhân vật. Nếu là nhân vật anh hùng, người nghệ nhân nói, hành động, giọng lên bổng xuống trầm, còn đối với nhân vật đối địch nghệ nhân lại hát, nói hành động khác. Chính điều đó làm cho lời hát, lời nói của sử thi sinh động hẳn lên, nó có tác dụng rất lớn trog việc khắc họa tính cách nhân vật và tác động đến người nghe và xem biểu diễn sử thi. Như vậy, ta thấy sự kết hợp ngôn ngữ hát, ngôn ngữ nói cùng với hành động diễn xuất của nghệ nhân giống như một diễn viên kịch trên sân khấu nhưng không phải là diễn viên kịch chuyên nghiệp mà thôi. Mặc dù nghệ nhân hát, nói, kể sử thi vùng với hành động tuy còn giản dị, mộc mạc, mang tính cộng đồng tập thể nhưng có tác động mạnh mẽ đến người đọc, người nghe, họ như chìm đắm, nhập vai nhân vật lúc bấy giờ.

Đặc biệt, tính kịch trong sử thi Đam Săn còn thể hiện ở ngôn ngữ đối thoại. Hầu hết tác phẩm Đan Săn là ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật và những lời đối thoại đó có khi tựa như những lời đối thoại giữa các nhân vật trên sân khấu, ngắn gọn, súc tích giàu ý nghĩa. Chẳng hạn như lời đối thoại giữa Mtao Grự và tôi tớ của ông ta khi bàn về vẻ đẹp của Hơ Nhị:

Mtao Grư\: – Si nga\ kơh, ơ hđeh, ih “uh mơ\ H’~^? Si nga\ siam mniê mdeh, ơ hđeh?

Hđeh: – Si ar amâo siam, guh mse\ yang, ang mse\ adiê! Kiê kngan mse\ luêh ksua. _ô\ mta m’^r m’u\r si boh tu\r kmrơ\ng, amâo djo\ boh “ơ\ng, boh dja\ chưn m’^n. K”a\t đei yơh anak ara\ng anei!

Mtao Grư\: – Bi kda\ng mơ\ ho\ng mô\ kâo reh ha\t?

Hđeh: – Siam `u mơh, aê ah?

Mtao Grư\: – Bi kdra\ng mơ\ ho\ng mô\ kâo la\p êha\ng?

Hđeh: – Siam `u mơh.

Mtao Grư\: – Bi kdra\ng mơ\ ho\ng mô\ kâo phu\n?

Hđeh: – Siam `u mơh.

Mtao Grư\: – Ơ hđeh, ma\ brei êman kơ kâo!

Dịch nghĩa:

Mtao Grự – Thế nào các con, có thấy Hơ Nhị không? Có đúng là cô ta đẹp không, các con?

Bọn tôi tớ – Sao lại không đẹp được, thưa ông? Nàng quả là lộng lẫy như thần, ngời sáng như trời. Ngón tay như lông nhím. Mặt mày tròn trạnh như quả hồng rừng, thứ quả không phải để ăn mà chỉ để cầm chơi thôi. Thật là một cô gái xinh tuyệt đẹp, ông ạ?.

Mtao Grự – Có sánh được với mụ vợ thái thuốc cho ta hút không?

Bọn tôi tớ – Đẹp hơn chứ, ông.

Mtao Grự – Có sánh được với mụ vợ têm trầu cho ta ăn không?

Bọn tôi tớ – Cũng đẹp hơn, ông ạ.

Mtao Grự – Thế có sánh được với mụ vợ cả của ta không?

Bọn tôi tớ – Cũng đẹp hơn hẳn, ông ạ.

Mtao Grự – Bớ các con, vậy thì đóng ngay bành voi cho ta [16; tr.32].

Như vậy ta có thể thấy rằng đoạn đối thoại giữa Mtao Grự và bọn tôi tớ giống như đang đối thoại trên sân khấu với ngôn ngữ ngắn gọn nhưng lại chứa đựng cả nội dung giao tiếp trong đó.

Đặc biệt trong ngôn ngữ đối thoại của sử thi, người ta đã vận dụng tất cả mọi khả năng vốn có quen thuộc và ưa dùng nghệ thuật tương phản, đối lập, cường điệu, ngoa dụ, thần thánh hóa… để xây dựng những tình huống mâu thuẫn, nội dung xung đột cho tác phẩm. Chẳng hạn, lời đối thoại trực tiếp giữa Đam Săn và Trời, sự phát triển các mâu thuẫn, xung đột ngày càng gay gắt và cần giải quyết:

Aê Adiê – Ơ cô, ơ cô, ya klei ih cia\ng hriê je\ aguah krah mn^t hla\k p^t đih anei?

Dam Sa\n – Kâo hriê mơh, aê ah. Kâo hriê ma\ êman. Ana\n êman mđue\ he\ kâo truh tơ phu\n mnu\t phu\n hra. Ana\n dôk tơ ana\n. Êyu\n tơ yu\, êman ka\n lo\ nao. Êyu\n tơ ngo\, êman ka\n lo\ nao. Ana\n kâo “uh he\ mnga mnu\t cuh dua, mnga hra cuh tlâo. Ana\n kâo tua\k adhan gu\, tlưt adhan dlông; tua\k adhan dlông, tlưt adhan “ro\ng, amâo lo\ mâo ma\. Ana\n kâo hriê kơ ih, aê ah.

Aê Adiê – Si ih thâo mâo ma\? Nga\ mnga ih deh? Mnga H’~^, H’Bh^. Ih dôk H’~^, H’Bh^ kơh, hna\n mnga kâo brei.

Dam Sa\n – Djiê mtiê kâo, H’~^ ka\n kâo dôk, H’Bh^ ka\n kâo dôk, aê ah.

Aê Adiê- Si amâo ih dôk H’~^, si ih amâo dôk H’Bh^, jơ\ng amâo tru\n hlu\n cia\ng mâo, jơ\ng amâo êran êman cia\ng mâo?

Ana\n yoh H’Bh^ dê lac: Ơ mai, ơ mai, si leh iê hnga\p hngơr, thâo êman jua\, thâo êman dla\r iê anei he\, amai ah. Bơ be\ drei tui nao!

Aê Adiê – Duh, cô ah, mô\ ih tui hriê.

Dam Sa\n – Ti le\ mô\, ti le\ miên? Djiê mtiê kao, H’~^ ka\n kâo dôk, H’Bh^ ka\n kâo dôk.

Aê Adiê – Êdi deh, cô?

Dam Sa\n – Êdi mơh, aê ah.

Anei Aê Adiê ma\ kơ đ^ng ha\t teh ti ko\ Dam Sa\n sa ngeh djiê. Sui “ia\ ti ana\n, lo\ hrih ma\. Leh hrih, ana\n lo\ hd^p.

Aê Adiê – Si nga\, cô? Ih dôk yơ\, cô?

Dam Sa\n – Ka\n kâo dôk lei, aê ah.

Ana\n Aê Adiê ca\m kjuh blư\ djiê kjuh blư\ hd^p. Tloh kjuh blư\.

Aê Adiê – Ih dôk yơ\, cô?

Dịch nghĩa:

Trời – Ơ cháu, có việc gì mà nửa đêm gà gáy, khi mọi người đang ngủ, cháu phải lên đây vậy?

Đăm Săn – Vâng, cháu đã lên tới đây, ông ạ. Cháu đi bắt voi. Voi đưa cháu đến gốc đa, một gốc sung và dừng lại đó. Cháu thúc nó đi về phía tây, nó không đi, Cháu thúc nó về phía đông, nó cũng không đi. Ngước nhìn lên, cháu nhác thấy một chùm hoa đa hai đóa, một chùm hoa sung ba đóa. Cháu liền trèo lên khoèo, khoèo cành dưới, hoa vọt lên cành trên; khoèo cành trên, hoa lại vọt lên ngọn cây. Cháu khoèo; mãi không được, nên tìm ông đấy ông ạ.

Ông Trời – Ô hay, làm sao cháu khoèo được! Hoa đâu phải của cháu. Hoa của Hơ Nhị, Hơ Bhị chứ. Cháu có chịu lấy Hơ Nhị, Hơ Bhị, ông mới cho.

Đăm Săn – Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị, cháu cũng không lấy Bhị.

Ông Trời – Sao cháu lại không lấy Hơ Nhị, không lấy Hơ Bhị? Thế mà cháu lại muốn chân không phải xuống đất mà nô lệ vẫn có, chân không phải chạy mà voi vẫn có ư?

Giữa lúc đó ở nhà, Hơ Bhị nói với Hơ Nhị: Này chị ơi, sao anh Đăm Săn đi lâu thế nhỉ? Hay anh đã bị voi quắp mất rồi! Chúng ta đi xem sao chứ!

Ông Trời – (Nói với Đăm Săn) Kìa vợ cháu đi theo cháu đã đến kia kìa!

Đăm Săn – Vợ viếc gì! Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị, cháu cũng không lấy Hơ Bhị.

Ông Trời – Thật chứ, cháu?

Đăm Săn – Thật chứ, ông.

Ông Trời tức thì lấy ống điếu cốc cho Đăm Săn một cốc vào đầu. Đăm Săn chết giấc ngay tức khắc. Lát sau, Ông Trời làm phép cho Đăm Săn sống lại.

Ông Trời – Nào, cháu, cháu lấy chứ?

Đăm Săn – Cháu không lấy đâu, ông ơi.

Ông Trời lại cốc đi cốc lại vào đầu Đăm Săn làm chàng chết đi sống lại bảy lần. Hết lần thứ bẩy, ông lại hỏi:

Ông Trời – Sao, cháu lấy chứ? [16; tr.25,26].

Tính kịch ở đoạn văn trên thể hiện khá sâu sắc, các mâu thuẫn cứ phát triển dần dần. Một bên là Ông Trời bắt Đăm Săn phải lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị và một bên là Đăm Săn cương quyết từ chối ý trời. Lần đầu, Đăm Săn muốn lấy hoa đa, hoa sung (hiện thân cho linh hồn của Hơ Nhị và Hơ Bhị) nhưng Ông Trời chưa cho lấy. Lần thứ hai mâu thuẫn lớn hơn: Trời bảo Đăm Săn có chịu lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị không nhưng Đăm Săn vẫn không nghe, vẫn cương quyết từ chối. Đến lần thứ ba thì mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm Trời đánh cho Đăm Săn chết đi sống lại buộc Đăm Săn phải lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị nhưng Đăm Săn vẫn cương quyết không thay đổi ý định của mình.

Như vậy, ta thấy, biện pháp nghệ thuật đối lập trong ngôn ngữ đối thoại đã làm cho đoạn văn mang tính kịch khá rõ, nó thể hiện một cách giản dị, mộc mạc nhưng không kém phần sinh động. Tinh thần dũng cảm của nhân vật Đăm Săn dám chống lại tập tục nối dây.

Tóm lại ta thấy, một trong những yếu tố góp phần tạo nên giá trị độc đáo cho tác phẩm sử thi Đam Săn đó là ngôn ngữ kịch, ngôn ngữ kịch ở đây được các nghệ nhân diễn đạt, hành động diễn xướng tuy còn đơn giản, kèm theo cử chỉ hành động đơn giản, mộc mạc nhưng đã lôi cuốn biết bao người nghe Khan, họ như chìm đắm, hòa mình vào thế giới sử thi.

2.4. Sử dụng nhiều biện pháp tu từ

Khan Đam Săn phản ánh thực tại bằng nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau. Đó là phong cách kỳ vĩ hóa của phương pháp lãng mạn thông qua các biện pháp so sánh, phóng đại, mô phỏng, và biện pháp lặp, cụ thể chi tiết được nghệ nhân sử dụng đắt giá được quán xuyến trong khắp các tác phẩm.

2.4.1. So sánh tu từ

Cũng như tất cả nền thơ ca của các dân tộc khác, Sử thi Đăm Săn dùng thủ pháp so sánh. Sự độc đáo, thú vị là ở đây người ta ít so sánh một lần mà thường so sánh nhiều lần cùng với các hình ảnh nối tiếp nhau rất phong phú và đa dạng. Theo họ, có như thế mới hay, hấp dẫn người đọc, người nghe.

Cơ sở của sự so sánh bao gồm hai yếu tố: Chủ thể so sánh và đối tượng so sánh. Hai yếu tố được nối liền với nhau bởi từ như hoặc các từ khác như bằng, kém, hơn, thua…hoặc không có từ so sánh. Các nghệ nhân dân gian thường dựa trên cơ sở Đối chiếu hai hiện tượng có những dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện tượng này qua đặc điểm thuộc tính của hiện tượng kia” [5; tr.190]. Hình ảnh so sánh thường được sử dụng rất quen thuộc, gần gũi với con người, lấy các hình ảnh của thiên nhiên của rừng núi Tây Nguyên. Từ vẻ đẹp hình thể đến sức mạnh, từ vẻ đẹp tâm hồn đến vẻ đẹp tính cách của nhân vật đều được các nghệ nhân dân gian xây dựng thông qua biện pháp so sánh.

Đối tượng của chủ thế so sánh là những sự vật hiện tượng, nó được đặt ngang hàng với những sự vật khác có tính tương đồng. Đối với nhân vật anh hùng, nghệ nhân thường so sánh với các hiện tượng kỳ vĩ của núi sông, đất trời để làm tăng thêm tầm vóc to lớn của tù trưởng giàu có, hùng mạnh. Những bộ phận cơ thể như: môi, miệng, cổ, hơi thở, giọng nói, đi đứng…rất gần gũi với con người và thiên nhiên. Khi nói về vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn, với thủ pháp so sánh, ta thấy vẻ đẹp khỏe khoắn của nam giới:

Tơ truh tơ gah, dôk tơ jhưng `u. Tơ gu\ lang a`uê tông, tơ dlông lang a`uê hrah, êdah boh anôk sah mdro\ng dôk. _ô\ mta `u si pruih êa cua\, si ria\ êa “a\l, nga\ si a\l si cô`. Hik tlao,”a\ng êgei `u si rah asa\r mkai. Êdai kiê kngan si hla êsu\n. Mu\n kkuê si tro\ng luê ksa\, dla\ng “ia\ “ia\ amâo thâo ti hra\p. Mlâo mu` đơ guôl êđang, mlâo kang đơ hwiê êpông, mlâo k”ông ca\t cua\l ca\t dar knga. Êbat ê’ui dôk bi ê’ui, êbat ê’ai dôk bi ê’ai, êdai kiê kngan ya amâo klah! Êbat hla\m êlan djo\ prao hwiê, êbat hla\m dliê djo\ prao hma\t, kda\t jing jai, kdưt jing jai, ai tiê si êman knô, êwa bhô bhô si gra\m aro\ng.

Dịch nghĩa:

Mặt chàng như hừng hơi men, như đã hầm trong nước vang, trông như đang tức giận. Khi chàng hé cười, miệng chàng trông như gieo hạt dưa hấu. Tay chàng đung đưa như khác nào lá nén lay trước gió. Cổ chàng trông như quả cà chín, nhìn một vài lần không đã thấy thèm. Râu mép to bằng sợi móc, râu hàm to bằng đọt song, râu ria quanh miệng mọc xoắn xít đến tận quanh tai. Chàng bước đi ung dung, giữ từng bước thật ung dung. Chàng đi khoan thai, giữ từng bước thật khoan thai, hai tay đánh đàng xa đến là đẹp. Trên đường cái, chàng lướt lên như con rắn mây. Trong rừng cây, lúc chàng nhảy dài lúc chàng nhảy lúp xúp trông cứ như co răn roi đang quất tới. Sức chàng ngang sức con voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy” [16; tr.13,16,57].

Nhờ đặc tính gợi cảm của sự vật được đem ra so sánh đã làm tăng thêm ấn tượng sâu sắc, hấp dẫn người đọc, bởi người đọc không cảm thấy người anh hùng dữ tợn mà trái lại nó làm nổi bật cái vẻ đẹp nhanh nhẹn, mềm mại, khỏe khoắn của Đam Săn được toát lên ngay từ bước đi đến dáng đứng.

Đối với nhân vật đối địch các nghệ nhân thường so sánh với những sự vật rất hung dữ, ghê sợ:

Chẳng hạn: Siam êkei Mtao Msei yang brei kơ mdro\ng, hnuh klo\ng bo\ miêng “a\ng jang. Mlâo boh tih mse\ ara\ng kga, mlâo boh pha djo\ ara\ng tlua\, mlâo ala\ djo\ ara\ng cuih bi kra\ng, da\ng bi krêc“.

Dịch nghĩa:

Mtao Mxây là một tù trưởng xinh trai thần ban cho cái giàu, gông cùm đầy ắp hai bên cổng làng. Lông chân hắn như chải, lông đùi hắn như chuốt, lông mi như trui cứng giăng đều. Mặt hắn như hừng hơi men, như hầm tron nước vang, trâu tơ thấy cũng không dám đi qua trước mặt“[16; tr.42].

Cũng bằng thủ pháp này, với người đẹp các nghệ nhân thường lấy các bộ phận cơ thể mang nữ tính dịu dàng như mắt, eo, dáng đi, bàn tay, vú, đùi, tóc để so sánh với những sự vật có tính chất phù hợp với những sự vật đưa ra.

Chẳng hạn khi miêu tả một nữ tù trưởng giàu có là nàng H’Nhị:

Guh mse\ yang, ang mse\ adie! Kiê kngan mse\ luêh ksua. _ô\ mta m’^r m’u\r si boh tu\r kmrơ\ng, amâo djo\ boh “ơ\ng, boh dja\ chưn m’^n. Anei H’~^ hrie kơ gah, a`^ a`ô mse\ adhan “lô klah “ro\ng, a`ing a`o\ng mse\ adhan ktơ\ng klah ana, m’iêng tơ anei, asei tơ adih.

Dịch nghĩa:

Nàng quả là lộng lẫy như thần, ngời sáng như trời. Ngón tay như lông nhím. Mặt mày tròn trạnh như quả hồng rừng, Hơ Nhị đi ra nhà khách, trông mềm mại như một cành blô lả ngọn, lả lướt như một cành klông lìa gốc, váy còn ở đây mà người đã ở đằng kia…“[16; tr.45].

Ở đây, nghệ nhân muốn nêu lên một vẻ đẹp nhẹ nhàng, uyển chuyển của con người vừa có nét đẹp của con người phàm tục đi lại dưới mặt đất vừa có nét đẹp của nàng tiên như bay như lượn. Đây là một phép đặc tả làm nổi bật tính chất và đặc điểm của sự vật một cách cụ thể, trực tiếp làm cho cách nói giàu hình ảnh, có sức gợi hình, gợi cảm rất cao được toát lên từ tính chất về các sự vật được so sánh.

Trong thủ pháp so sánh có thể có nhiều hình thức khác nhau như so sánh ngầm, so sánh trực tiếp giữa các vế với nhau. Nghệ nhân thường sử dụng các phép so sánh như mượn cái cụ thể để nói cái trừu tượng chẳng hạn khi miêu tả tiếng cười của nàng H’Bia Amrak Kpang: Tiếng cười nhỏ bằng trái mdong. Tiếng cười nhỏ bằng trứng chim. Tiếng cười to bằng môi múc cơm. Cười nhỏ kẻ giàu muốn nghe. Cười to kẻ giàu muốn bắt chước. Con tê giác nghe thấy cái sừng phải rơi xuống đất. Con voi nghe cặp ngà phải rụng[2; tr.132]. Và tiếng hát của nàng Hơ Bia Blao Giọng hát của nàng ngọt như rẫy ngô đang ngậm sữa, như rẫy ngô đang trổ đòng[1; tr.65]. Qua sự so sánh độc đáo này những hiện tượng trừu tượng trở nên có hình khối như có thể nắm bắt được và còn giúp ta khám phá, phát hiện những khía cạnh mới, chiều sâu ngữ nghĩa trong bản thân các chữ. Như khi nói về tình yêu một khái niệm trừu tượng, mơ hồ các nghệ nhân lại tìm hiểu đến kiểu so sánh như sau: Tôi đã yêu chàng rồi. Bởi chàng mang một trái tim đẹp và đáng sợ như Pung núi. Giọng nói của chàng cất lên như sấm giật đàng đông, chớp giật đằng tây“[1; tr.394].

Nghệ nhân còn lấy cái trừu tượng để so sánh với cái cụ thể tạo nên những hình ảnh rất độc đáo.

 

Chẳng hạn:

  • Nhà dài như một hơi chiêng
  • Sàn hiên rộng như một hơi ngựa phi
  • Rẫy dài như tiếng kèn vang.

Những hình ảnh: Hơi chiêng, hơi ngựa phi, tiếng kèn là hình ảnh trừu tượng nhưng rất quen thuộc với người Tây Nguyên. Kiểu so sánh này đem lại cách nói rất riêng, có cái gì đó như hư, như thực trong sử thi.

Cũng có khi nghệ nhân lấy cái cụ thể để so sánh với cái cụ thể. Chẳng hạn như:

  • Răng trắng như hạt dưa hấu
  • Thân hình mềm như cọng hành non
  • Làn da trắng như bông hoa Yuôr
  • Người gầy như con diều hâu
  • Mặt đỏ như cây nến đang cháy.

Với người đẹp các nghệ nhân luôn dành cho họ những hình ảnh so sánh thật tinh túy, đẹp đẽ như nàng Hơ Nhị: Êbat ta\k tai, êdai kiê kngan ê’un êma\n. Boh “u\k aci dôk bơ aci, boh “u\k aco\ng dôk bơ aco\ng, sa boh cing mo\ng pro\ng `u m”u\k. Cah êbat mnu\ prang, chuang êbat mlang bâo, kam mlâo đung bơ arư\.

Dịch nghĩa:

Nàng bước khoan thai, tay đu đưa mềm mại, búi tóc chải mượt được giữa thật mượt, búi tóc chải gọn được giữa thật gọn, cả búi tóc to bằng một cái chiêng mong. Khi nàng cất bước, trông như một con gà mái đang xù lông. Khi nàng bước tới, nhe như một con bồ chao đang vỗ cánh, một làn bụi trấu thoảng trôi theo bước nàng đi“[16; tr.14].

Như vậy với sự tinh tế và sắc sảo các nghệ nhân dân gian đã phát hiện ra những sự vật, vô cùng phong phú, có tính chất tương đồng của núi rừng để so sánh với các nhân vật tạo nên sức gợi cảm cao trong việc thể hiện vẻ đẹp khỏe khoắn, mạnh mẽ của nhân vật anh hùng và vẻ đẹp dịu dàng, quyến rũ của người đẹp. Đó chính là hiểu quả của thủ pháp so sánh mà nghệ nhân đã triệt để khai thác.

Cũng như khi thể hiện sức mạnh long trời lở đất của cộng đồng Êđê. Các nghệ nhân đã ví họ như những dòng thác tuôn ầm ầm, ào ào: Đoàn người đi đông như bầy cà tong, đặc như như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối[16; tr.38].

Bối cảnh giàu mạnh của người anh hùng Đăm Săn Người đi đi lại lại như sương mù, tớ trai đi lại ngực đụng ngực, tớ gái đi lại vú đựng vú. Qua sự so sánh đó ta thấy xuất hiện lên khung cảnh rộn ràng, nhộn nhịp, giàu mạnh của buôn làng Êđê trong thời kì cổ đại.

Nói tóm lại, ta thấy biện pháp so sánh là biện pháp phổ biến của nhiều thể loại văn học các dân tộc, song cách so sánh của người Êđê có một sức hấp dẫn riêng biệt, ở đây họ ít khi so sánh một lần mà thường là so sánh nhiều lần liên tiếp. Họ cho so sánh như thế mới hay, mới hấp dẫn người đọc, người nghe. Vì thế, trong tác phẩm tràn ngập những hình ảnh so sánh nối tiếp nhau rất đa dạng. Tạo nên nét độc đáo, lôi cuốn người đọc, người nghe từ đầu đến cuối tác phẩm. Những hình ảnh, sự vât, hiện tượng được mang ra so sánh không ở đâu xa lạ mà được lấy từ hiện thực, từ thế giới thiên nhiên, từ vũ trụ. Dùng vũ trụ để đo kích cỡ nhân vật anh hùng, người đẹp là một cách phóng đại để đề cao người anh hùng, người đẹp. Nghệ thuật đó rất nổi bật trong sử thi, mang một giá trị thẩm mĩ đặc biệt, tránh cho độc giả sự nhàm chán.

2.4.2. Ngoa dụ

Đây là một thủ pháp nghệ thuật dựa trên cơ sở phóng đại, cường điệu kích thước, quy mô, tính chất của đối tượng hay hiện tượng được miêu tả“[5; tr.212]. Trong sử thi Iliat ta bắt gặp hình ảnh Asin chạy nhanh như gió thổi, trong Mahabharata người anh hùng Acgiuna bắn mũi tên trúng vào mắt cá thông qua bánh xe đang xoay tít để lấy nàng Đrôpati. Và trong sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đăm Săn nói riêng ta đã tìm thấy sức mạnh phi thường toát lên từ thân thể cường tráng, từ những hành động dũng mãnh của những người anh hùng, những vẻ đẹp rực rỡ của nhân vật người đẹp và cò cả trong khung cảnh sinh hoạt, thiên nhiên, tất cả tạo nên âm hưởng hào hùng, bay bổng đầy lãng mạn.

Như khi miêu tả ngoại hình của nhân vật anh hùng các nghệ nhân thường phóng đại, cường điệu có kích thước, quy mô, năng lực như những siêu nhân nhằm gửi gắm vào đó những trách nhiệm nặng nề cũng như những ước mơ, khát vọng. Chàng Đăm Săn được miêu tả có đôi mắt Đôi mắt linh lợi như con choi choi ăn bùn non, bắp chân chàng to bằng cây xà ngang, bắp đùi to bằng ống bể, sức chàng ngang sức con voi đực, hơi thở chàng ầm ầm tựa sấm dậy, chàng nằm sấp thì gẫy rầm sàn, chàng nằm ngửa thì gẫy xà dọc[16; tr.57]. Còn chàng Dam Đơ Roăn thì được miêu tả Có một bộ ngực nở, cặp mắt gió thổi không tắt, với đôi cánh tay to và khỏe hơn những cành đa bám chặt gốc đa[1; tr.367]. Ẩn chứa bên trong thân hình vạm vỡ đó là sức mạnh phi thường, sức mạnh đó đã chiến thắng các tù trưởng gian ác, chiến thắng thiên nhiên hung dữ Đã từng giết tê giác trong thung, giết cọp beo trên núi, giết kên kên quạ dữ trên ngọn cây, chém tha ma, ác quỷ trên đường, họ đi đi mãi đi hết chiều dài năm tháng năm, lúc nghe sông nước rì rào, lúc nghe biển cả gào thét [16; tr.71] để chinh phục thiên nhiên thần bí.

Thủ pháp ngoa ngụ đã làm tăng thêm cái bóng bẩy, hoa mỹ, nâng thêm sự kỳ vĩ của sự vật, hiện tượng. Chẳng hạn Lưỡi gươm sáng óng ánh như ánh chớp tháng bảy” sắc đến nỗi
Con ruồi đậu lên cũng bị bổ làm đôi. Và chính vũ khí thần ban cho họ đã chiến thắng kẻ thù gian ác. Đây là tiếng quay khiên của Xinh Nhã Múa phía trước một mái tranh bay theo gió, múa phía sau một mái nhà bay theo bão. Nhà Gia Rơ Bú nghiêng đằng tây, ngả đằng đông. Gió từ núi Mơ Đan tới, nước suối dâng, trôi cả gà, trâu bò và nô lệ[1; tr.71]. Tiếng quay khiên của Xinh Nhã biểu thị sức mạnh, lòng căm thù cao độ, tượng trưng cho khí phách hào hùng của tập thể trai làng và cộng đồng thị tộc người Tây Nguyên. Trong chiến đấu người anh hùng có một sức mạnh phi thường Nhảy một nhảy qua ba ngọn núi, nhảy một nhảy qua bảy ngọn đồi. Trong lao động họ cũng thể hiện một sức mạnh hơn người, họuống không biết say, kể truyện không biết chán“, giọng nói của người anh hùng khi cất lên như sấm giật đằng đông, chớp giật đằng tây[13; tr.102].

Cùng yếu tố thần thoại, ngoa dụ đã tạo nên một sức hấp dẫn kì lạ, lôi cuốn người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm. Dù vậy nó cũng không làm cho độc giả cảm thấy phi lí mà nó như hòa nhập một cách tự nhiên, với sự kỳ vĩ, hào hùng của không khí sử thi. Tất cả đều xuất phát trên nền hiện thực từ việc đánh tiếng chiêng, uống rượu, săn bắn, tài năng lòng quả cảm của con người Êđê.

Bên cạnh nhân vật anh hùng, các người đẹp trong sử thi Đam Săn cũng được các nghệ nhân dành cho những lời đẹp đẽ nhất xuất phát từ biện pháp ngoa dụ. Chẳng hạn miêu tả vẻ đẹp của Hơ Nhị:

_ar m’iêng ju\ si mnga êna\m, ta\m si mnga hbiê, m’iêng Aê Adiê brei mơ\ng dlông, tla\ dla\m mơ\ng dlông. M’iêng `u “l^p si kmlia\p, “lia\p si kmla\, tla\ “uôn sang “êc “ư mdư. Boh “u\k ci dôk bơ ci, boh “u\k dôk bơ co\ng, mda\p cing mo\ng pro\ng `u m”u\k. Knhal “u\k “iêk prah kdơr hơr klap, riap adring mhung mhing djo\ knia ktro\ êyui. Kal tuh cu\t nao mga\n, kal ba\n cu\t nao mdơ\ng, krơ\ng “u\k “iêk hu^ ang^n puh ba mđung. Tar mniê “uôn amâo mâo pô mse\ si `u.

Dịch nghĩa:

Hơ Nhị mặc một váy đen như hoa ênăm như hoa hblê, cái váy từ trên cao Ông trời đã ban cho, từ trên cao Ông Trời đã thả xuống cho nàng. Nó ánh như sét, loáng như chớp, rọi lên xóm làng những tia sáng rực rỡ. Búi tóc chải mượt, nàng luôn giữ thật mượt. Búi tóc chải gọn, nàng luôn giữ thật gọn. Cả búi tóc to như độn một cái chiêng mong. Mớ đuôi gà thì đủ để xua ong vụt mối, lợp kín cả một sàn sân, sum suê như một cây knia nặng bóng…khắp các xóm làng không đâu có một cô gái như nàng cả” [16; tr.44]. Đúng là vẻ đẹp rực rỡ, choáng ngợp, họ đẹp như thần sông, thần núi tạo nên. Chính vì điều đó đã khiến cho chàng Đam Săn vượt mọi nguy hiểm vượt qua rừng sâu, núi hiểm để chinh phục Đi bắt nữ thần mặt trời vì nàng là hiện thân cho vẻ đẹp rực rỡ của thiên nhiên thần bí _ar m’iêng “l^p si kmlia\p, “lia\p si kmla\. _u\k “iêk hwiêt knga ja\k h^n din. Kbia\ mơ\ng adu\, “a\ng adu\ mngac. Êbat si tlang êwư\, si grư\ êwa, êa kpuh mđung ka\n mâo mse\.

Dịch nghĩa:

Nàng mặc một váy ánh như sét, loáng như chớp. Mái tóc nàng vén bên tai trông thật đẹp. Nàng từ trong buồng đi ra, cửa buồng liền bừng sáng. Nàng đi trông như diều bay ó liệng, như nước lững lờ trôi cũng không bằng
[16; tr.70].

Chính lối nói ngoa dụ, phóng đại ấy đã làm cho nhân vật đối địch (nhân vật Mtao Grứ) trở nên xấu xa, bỉ ổi. Từ bên ngoài đến tính cách, bụng thì To như cái bồ đựng tro, xệ bằng cái bịch rách đựng trấu. Bước đi ì à ì ạch thật là cái bụng đi trước cái ngực đi sau, cái răng to bè như vỏ quả Khơ nôk… Đôi mắt lúc nào cũng trắng giã. Cho đến tính cách tham lam, lỗ mãng, hèn nhát, đến nhà người khác, chủ nhà chưa kịp mời đã Tự tay bốc thuốc hút, cầm ngay nước uống, lúc ăn cơm Hắn bốc mỗi miếng to bằng đầu con chồn, đút miệng mỗi miếng to bằng co gấu. Hắn ăn không biết xấu hổ, cơm thì chỉ một nhúm, rau thì chỉ một nhón, nhưng thịt gà thì hắn quơ luôn ba miếng
[16; tr.46]. Đúng là một người không biết ý tứ, ăn uống không khiêm tốn. Nhân cách của chúng đối lập hẳn với người anh hùng. Chính điều đó càng nâng cao tầm vóc cao lớn sánh ngang với trời của người anh hùng.

Lời nói ngoa dụ trong sử thi còn đưa ta đến với buôn làng Êđê giàu có, hùng mạnh, lúc nào cũng sống trong cảnh ăn năm, uống tháng“, cảnh xương trâu chất thành đồi, xương bò chất thành núi, rượu chảy thành sông, thành suối. Tiếng nói chuyện ùn ùn như đàn ong đi lấy mật, như đàn ong đi lấy nhụy hoa. Lũ trai gái như con tôm búng ra khỏi hang, người đi qua lại như đàn ong dời tổ. Các bến nước nhọn như cái lờ bắt cá. Các nương rẫy lung linh ở sườn núi. Trông đàn bò đen như trái cà xanh. Trông đàn bò hồng như trái cà chín. Nhộn nhịp người qua lại, như đàn kiến, đàn mối chuyển trứng khỏi hang” [2; tr.10].

Trong cảnh sống thanh bình đó, tiếng chiêng luôn vươn xa đến các buôn làng của các Yang. Tiếng chiêng như cuốn hút mọi tạo vật, dường như làm cho âm thanh của cuộc sống thường ngày đều ngưng lại để chỉ để thưởng thức tiếng chiên mà thôi, điều đó được các nghệ nhân thể hiện tài tình Tiếng chiên vang khắp núi rừng, là vượn quên đu cây, ma quỷ quên làm hại người, sóc chuột quên đào hang, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm dài trên mặt đất, là hoẵng đứng ngẩn , thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ, tất cả đều mải vui với tiếng chiêng chẳng còn màng nhoài đầu ra ăn cỏ[16; tr.6]. Trong thời đại Khan con người đã biết diễn đạt giao tiếp một cách khiêm tốn, tế nhị, trang trọng, thông qua biện pháp ngoa dụ. Khi chủ nhà mời khách Ơ diêng, ơ diêng mời diêng xơi cơm. Cơm chúng tôi mùi mốc, nước chúng tôi tanh mùi bùn, gà chúng tôi gà diều tha, người dọn cơm mời anh em là những con mụ đàn bà què quặt, ăn mặc xộc xệch, trông như những con diều tha, như những con vẹt diều mổ, mời anh em ăn cho. Khách trả lời: Tôi đến nhà chị, chúng tôi ăn chừng ấy. Ở nhà chúng tôi, một quả dưa hấu chúng tôi ăn ba đời, một quả dưa gang chúng tôi ăn ba năm đấy chị ạ [16;tr.9]. Trai gái tỏ tình cũng hết sức duyên dáng, chàng Xinh Nhã thấy nàng Bơ Ra Tang xinh đẹp lòng rạo rực yêu thương liền cất tiếng hỏi bóng gió Thấy thuốc lá để trong giỏ, tôi muốn mua nhưng còn sợ cha mẹ chưa đặt giá[1; tr.43].
Còn khi từ chối tình yêu, từ chối chồng nàng Hbia Blít đã nói
Anh yếu như cái ống cây le, mềm như ống nứa. Cái nấm mèo hãy trở về gốc cây đi, cái nấm hương hãy trở về với đất đi[2; tr.69].

Nói tóm lại, ta thấy ngoa dụ là thủ pháp nghệ thuật rất thông dụng của người Êđê không những trong khan mà còn được sử dụng trong các loại khác như kớt, mmuynh, ayray, khóc tang lễ cũng như trong sinh hoạt hằng ngày“[13; tr. 85]. Chính cách diễn tả vượt xa cái nguyên mẫu làm cho sử thi anh hùng mang tính kỳ vĩ và nó đã làm cho hình tượng nghệ thuật chứa đựng cả sức mạnh cộng đồng đạt đến dạng hoành tráng kỳ vĩ, theo tầm vóc của núi rừng Tây Nguyên, theo tầm cỡ của vũ trụ. Cũng chính lối nói ngoa dụ đã kích thích mạnh mẽ trí tưởng tượng của người đọc, người nghe, thể hiện một phong cách sáng tạo nghệ thuật, theo khuynh hướng lý tưởng hóa tràn đầy chất lãng mạn.

2.4.3. Mô phỏng

Mô phỏng là thủ pháp phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng, nghĩa là mô tả đúng đối tượng như nó vốn có trong thực tế khách quan” [14; tr.104]. Bằng thủ pháp nghệ thuật này nghệ nhân muốn đưa đến cho người độc giả nhìn thấy được bức tranh sinh động về cuộc sống và hiện thực của thời đại tiền giai cấp.

Bằng thao tác lựa chọn nghệ nhân dân gian đã mô phỏng một cách ăn mặc của tù trưởng Đăm Săn: Chàng mặc khố mới, chàng quấn một khố sọc rằn gập bỏ múi, mặc một áo dày nút, quanh hông chàng quấn thêm một dải thắt lưng láng đen, đầu bịt thêm một vành khăn láng đỏ
[16; tr.13]. Chỉ cần một vài nét khắc họa, nghệ nhân đã gợi lên trước mắt ta hình ảnh về trang phục truyền thống của người đàn ông Êđê.

Và qua biện pháp này, ta còn biết được các thao tác của người Êđê khi uống rượu cần Kẻ chạy lên, người đi xuống, kẻ buộc rượu, người bẻ lá, người khác rộn ràng đi khênh nước, uống rượu thả nước bằng sừng trâu.

Còn đây là đoạn văn Đăm Săn chuẩn bị cúng thần linh, phù hộ sức khỏe, phù hộ may mắn cho mình và cả buôn làng được miêu tả cụ thể, chi tiết: Xin dâng thần rượu bảy ché, trâu bảy con, rượu bảy ché, bò bảy con, rươu bảy ché lợn thiến bảy con, để cúng tổ tiên và sức khỏe cho ta [16; tr.49]. Như vậy ta thấy người đồng bào Êđê rất coi trọng các vị thần Yang, đối với họ việc cúng, thờ thần là rất thiêng liêng nên lễ vật cúng tế ở đây phải đủ số lượng để thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần.

Bút pháp mô phỏng còn vẽ nên một bức tranh sinh động về phương thức canh tác nương rẫy của người đồng bào Êđê Phát xong cỏ, đốn xong cây. Ít lâu sau đó, họ đốt, rồi ai làm cỏ cứ làm cỏ, ai cào cứ cào. Đến lúc gieo trỉa hạt Đoàn người nườm nượp tíu tít gieo trỉa. Người kín đen như một đêm không trăng, như một mớ đen vủa nhuộm, ùn ùn như kiến như mối [16; tr.41]. Một vài nét phác họa đơn giản, người đọc cũng hình dung ra đây là một khung cảnh lao động nhộn nhịp, sôi động mang tính chất của cộng đồng, vì lợi ích chung của buôn làng thông qua lời kể phóng thoáng của nghệ nhân.

Ngoài ra các nghệ nhân còn dùng biện pháp này mô tả sự vật hiện tượng trong tự nhiên như Tiếng ầm của thác, tiếng rì rào của dòng suối chảy, tiếng ngựa hí, tiếng vượn kêu ọc ẹc, tiếng chim vát vao, tiếng cười ríc rắc“….[14; tr.106] mang tính chất tượng thanh rõ nét. Với biện pháp nghệ thuật này, các nghệ nhân đã dựng lên bức tranh hiện thực của thời đại cổ sơ như có hồn, hình ảnh cụ thể làm cho người đọc có thể cảm nhận được trực tiếp bằng thị giác và thính giác.

2.4.4. Biện pháp lặp

Trong sử thi Đam Săn, đây là biện pháp xuất hiện nhiều nhất trong tác phẩm. Tập trung trên nhiều cấp độ khác nhau của câu chuyện từ lời nói, hành động đến cấu trúc. Tạo nên sự ổn định hóa cốt truyện thông qua phương thức truyền miệng, góp phần quan trọng vào việc duy trì sức lâu bền của thể loại sử thi qua hàng thế kỷ. Thủ pháp lặp tạo nên từ lối miêu tả chi tiết, cụ thể của người Êđê đã thu hút người đọc, người nghe từ đầu đến cuối tác phẩm.

Chẳng hạn khi miêu tả ngoại hình của người anh hùng Đam Săn: Mặt chàng như hừng hơi men, như đã hầm trong nước vang, trong như đang tức đang giận. Khi chàng hé cười, miệng chàng trông như gieo hạt dưa hấu. Tay chàng đung đưa khác nào lá nén lay trước gió. Cổ chàng trông như quả cà chín, nhìn một vài lần đã thấy thèm. Râu mép to bằng sợi móc, râu hàm to bằng đọt song, râu ria quanh miệng mọc xoắn mọc xít đến tận tai [16; tr.13]. Từ Râu lặp lại nhiều lần đã làm cho vóc dáng người anh hùng như oai phong, hùng dũng hơn. Còn trang phục của người anh hùng cung được lặp đi lặp lại Đăm Săn người anh hùng đội khăn kép, vai mang túi da nhằm tô đậm thêm sự giàu có, hùng mạnh của người anh hùng. Và khi múa khiên với kẻ thù, nghệ nhân cũng miêu tả thật tỉ mỉ, những hành động quyết liệt, mạnh mẽ của họ lặp đi lặp lại nhiều lần Chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng đĩa khiên đồng. Chàng múa lên cao, vang lên tiếng đĩa khiên kênh. Chàng múa chạy như nước kiệu, ba lớp núi liền rạn nứt, ba đồi tranh liền bật rễ tung bay [16; tr.37]. Như vậy ta thấy hành động múa khiên của Đam Săn được miêu tả nhiều lần, ở nhiều địa điểm mỗi lần như vậy sức mạnh càng mạnh hơn làm cho kẻ thù khiếp sợ.

Bên cạnh nhân vật anh hùng, nhân vật người đẹp xuất hiện làm sáng rực cả không gian, như vẻ đẹp của nàng Hơ Nhị Nàng mặc váy đen như hoa ênăm như hoa hblê, nó sáng như sét, loáng như chớp, rọi lên xóm làng những tia sáng rực rỡ. Búi tóc chải mượt, giữ thật mượt. Búi tóc chải gọn, giữ thật gọn. Cả búi tóc to như độn một cái chiêng mong, sum suê như một cây knia nặng bóng [16; tr.44,45]. Nếu búi tóc của người đẹp được miêu tả một lần theo cách nghĩ của người Êđê là không hay, không sinh động, không rộn ràng và không phù hợp với không khí của sử thi. Chính vì vậy, thủ pháp lặp lại có tác dụng rất lớn để nhấn mạnh vẻ đẹp của người phụ nữ. Và theo chúng tôi, hình ảnh phong phú cùng với biện pháp lặp, được miêu tả tỉ mỉ trong sử thi Đăm Săn không hề gây cho người nghe cảm giác thừa hay tâm lý khó chịu mà chính điều này tạo nên sức mạnh lôi cuốn, thuyết phục đối với người nghe.

Trang phục của người đẹp cũng được miêu tả tỉ mỉ Nàng mang cái váy trùm chân, mặc cái váy trùm mông. Nàng bước qua phòng ngủ thân hình sáng chói như tia chớp trong bóng tối. Nàng mặc chiếc váy có thêu những bông hoa ênăm và bông hoa me lóng lánh như luồng ánh sáng[2; tr.35].

Thủ pháp lặp lại đã đưa ta đến chứng kiến sức mạnh cộng đồng Êđê thời cổ sơ đồng tâm nhất trí, trăm người như một được lặp lại trong sử thi. Chẳng hạn như cảnh Người đi đông như bầy cà – tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối. Họ đem của cải trông như ong đi chuyển nước, như vò vẽ đi chuyển hoa, như trai với gái đi giếng làng gùi nước [16; tr.38]. Buôn làng giàu có, hùng mạnh Tớ trai đi lại ngực đụng ngực, tớ gái đi lại vú đụng vú. Trên mặt đất, lợn đi lại nhiều như cục đá, gà chạy như lá bay và bầy vịt, đàn ngỗng tắm kín mặt ao hồ. Trâu bò đầy bãi, voi đầy rừng, dân làng mải mê lo ăn năm uống tháng[1; tr.85].

Trong cuộc sống thanh bình đó tiếng chiêng vang lên lặp đi lặp lại nhiều lần, tạo nên sự ổn định trong cấu trúc tác phẩm cũng như cuộc sống sung túc giàu có của người anh hùng vang xa, dài lâu. Trong khan Đam Săn nghệ nhân đã miêu tả tiếng chiêng bằng ba đoạn văn dài ở các trang 6, trang 9 và trang 55 Tiếng chiêng khiến khỉ quên đu cây, ma quỷ quên làm hại người, sóc chuột quên đào hang, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm dài trên mặt đất, là hoẵng đứng ngẩn, thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ, tất cả đều mải vui với tiếng chiêng, chẳng còn màng nhoài đầu ra ăn cỏ [16; tr.6].

Qua một số tác phẩm sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng, ta thấy cứ mỗi lần người anh hùng đánh các tù trưởng gian ác, các tù trưởng luôn cướp vợ quý ở trên đời. Sau mỗi lần chiến thắng là người anh hùng Nghỉ một ngày, ngơi một đêm, ở không thêm một chiều, một sáng để rồi lại tiếp tục công việc săn bắn, nương rẫy. Điệp khúc đó cứ nhắc đi, nhắc lại trong các bản sử thi làm cho người đọc thích thú, thuyết phục người nghe, công việc người anh hùng luôn nối tiếp nhau – đánh giặc rồi lại lao động cứ thế tiếp diễn. Còn trong mỗi lần đánh nhau với các tù trưởng khác thì người đẹp Ném xôi, đổ nước… vào miệng tù trưởng gian ác, còn người anh hùng thì bao giờ cũng được người đẹp cho uống trước để tăng thêm sức mạnh. Điều đó chứng tỏ người đẹp luôn ủng hộ, luôn song hành trong mọi hành động của người anh hùng.

Tóm lại biện pháp lặp giữ vai trò quan trọng trong sử thi Đam Săn. Nó tạo nên không khí hào hùng, tràn đầy lãng mạn của sử thi, và biện pháp lặp lại một số hình ảnh xuất hiện đi, xuất hiện lại nhiều lần không hề tạo cho người đọc, người nghe cảm giác thừa hay cảm giác nhàm chán mà nó tạo nên sức mạnh lôi cuốn, thuyết phục người nghe. Nó góp phần gìn giữ và lưu truyền sử thi dưới hình thức truyền miệng. Tạo nên nét riêng biệt rất đậm đà bản sắc của đồng bào Êđê mà hiếm thấy ở các dân tộc khác.

2.5. Ảnh hưởng của ngôn ngữ trường ca Đam Săn đối với cuộc sống người Êđê

Trong quá trình tìm hiểu sử thi Đăm Săn, chúng tôi nhận thấy rằng: Ngôn ngữ sử thi Đăm Săn là ngôn ngữ văn học có những đặc điểm độc đáo làm nên những giá trị thẩm mĩ riêng. Đúng như tác giả Võ Quang Nhơn nói Sử thi anh hùng Tây Nguyên là một loại hình thuộc thể loại tự sự dân gian, có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, am nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu nữa. Đồng thời, Ông nêu lên đặc điểm khái quát nhất làm nên ngôn ngữ sử thi: Những yếu tố nghệ thuật ngôn ngữ là một tổng thể kết hợp hài hòa, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên giá trị không thể nào bắt chước được các bản sử thi anh hùng” [8; tr.772]. Như vậy, Theo tác giả Võ Quang Nhơn nghệ thuật ngôn ngữ sử thi Tây Nguyên là nghệ thuật ngôn ngữ tổng hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau. Qủa đúng như tác giả nói, trong quá trình tiếp xúc trực tiếp với sử thi Đam Săn, chúng tôi đã khai thác, nghiên cứu đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong sử thi rất độc đáo, tạo nên những giá trị độc đáo không thể nào bắt chước được sử thi. Đồng thời, tác phẩm sử thi Đam Săn còn có nhiều giá trị, ảnh hưởng đến tư tưởng, nhận thức của người độc giả nói chung và tác động đến đời sống sinh hoạt hằng ngày, đời sống sinh hoạt lễ hội của người đồng bào Êđê nói riêng. Thông qua tác phẩm người đồng bào Êđê có cái nhìn thẩm mĩ, nhận thức đúng đắn hơn về giá trị của cuộc sống.

2.5.1. Đối với sinh hoạt đời sống hằng ngày

Thông thường nói đến tác động hay giá trị của tác phẩm đến con người, người ta nghĩ đến ngay chỗ tác phẩm ấy mang lại những tri thức gì, những kiến thức gì về cuộc sống, giúp người đọc biết thêm điều gì mới mẻ. Qủa thực, những hiểu biết mà mỗi truyện ngắn, mỗi cuốn tiểu thuyết hay mỗi cuốn sử thi miêu tả cách sinh hoạt, phong tục của một xã hội, một thời đại. Những bức tranh đời sống như vậy, nhất là tường thuật theo kiểu mô tả chính xác hiện thực thường đem lại cho người đọc, người nghe những hiểu biết về lịch sử, sinh hoạt, phong tục của thời đại.

Tuy nhiên, bên cạnh những chi tiết về đời sống như vậy, mỗi nghệ sĩ phải giúp cho người đọc, người nghe nhận thức được những vấn đề đang đặt ra trong xã hội mình đang sống hoặc những vấn đề liên quan đến vận mệnh cả con người, của dân tộc từ xưa đến nay. Chẳng hạn: Đọc sử thi Đam Săn chúng ta không chỉ biết ngày đó đồng bào Êđê sống trong tập thể, cộng đồng, có những phong tục tập quán rất riêng của người đồng bào Êđê…mà chúng ta còn thấy được xã hội ngày ấy có sự biến chuyển mạnh mẽ, người đàn ông dần dần có vị thế trong xã hội cũng như trong gia đình. Họ có trách nhiệm nặng nề, cai quản mọi công việc từ vấn đề hôn nhân đến vấn đề cả sự sinh tồn của cả cộng đồng. Như vậy, từ biết cho đến hiểu là một yêu cầu của nhận thức văn học. Vì vậy, theo chúng tôi, tác động, ảnh hưởng của tác phẩm văn học nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng có tác động mạnh mẽ tới người độc giả cũng như người nghe ở nhiều mặt như: Làm cho người đọc không chỉ hiểu biết về các sự kiện, các vấn đề xã hội, phong tục tập quán…Đặc biệt là tác phẩm văn học đó gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày thì càng có tác động lớn đối với người đọc, người nghe trong sinh hoạt hằng ngày của người độc giả. Như sử thi Đam Săn, chúng tôi nhận thấy rằng: Sự tác động, ảnh hưởng của tác phẩm đến đời sống, sinh hoạt hằng ngày của người đồng bào Êđê là rất lớn, họ rất muốn nghe, muốn đọc các bản sử thi. Bởi vì trong cuộc sống hằng ngày của họ, ngoài việc buôn trải lo lắng kiếm cái ăn cái mặc, phải lao động cực nhọc…Khi nghe sử thi họ như quên đi thực tại, quên những lo toan vất vả của đời sống thường ngày để sống với thế giới hoàng tráng làm cho họ có tinh thần lao động hơn, hăng say hơn. Họ như hòa mình vào thời đại Khan ngày ấy, họ như nhập vai vào các nhân vật anh hùng, nhân vật người đẹp để tự soi chiếu mình, để có cái nhìn lạc quan hơn về tình đời, tình người. Ngoài ra, nó còn có tác dụng trong việc giao tiếp giữa con người với nhau như trong sử thi Đam Săn người đồng bào Êđê cổ xưa họ đã biết nói khiêm tốn, tế nhị với nhau Cơm chúng tôi mùi mốc, nước chúng tôi tanh mùi bùn, gà chúng tôi gà diều tha, người dọn cơm mời anh em là con mụ đàn bà què quặt, ăn mặc xộc xệch, trông như những con két diều tha, như những con vẹt diều mổ, mời anh em ăn cho. Lời nói lại của người khách đáp lại cũng rất khiêm tốn Ở nhà chúng tôi, một quả dưa hấu chúng tôi ăn ba đời, một quả dưa gang chúng tôi ăn ba năm
[16; tr.9] thì đến nay lời nói đầy khiêm tốn ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với người đồng bào Êđê. Trong cuộc sống hằng ngày họ giao tiếp với nhau cũng rất khiêm tốn, giản dị, dễ hiểu, gần gũi với đời sống hằng ngày của họ. Bên cạnh đó, sử thi Đam Săn còn tác động đến sinh hoạt hằng ngày của đồng bào Êđê khi có lễ tang. Trong sử thi Đam Săn khi Hơ Nhị và Hơ Bhị chết đi thì người anh hùng Đam Săn đã khóc rất thảm thiết Chàng khóc cả ngày cho đến chiều, thâu đêm cho đến sáng. Hay là lời khóc than của Hơ Bhị khi Đam Săn đi chinh phục nữ thần mặt trời nhưng không thành mà bị chết trong rừng Đất Sáp Đen của bà Sun Y Rít: Ới anh ơi, ới anh ơi! Em vẫn tưởng anh có chết thì cũng chết trên bãi chiến trường khi đang chiến đấu với quân thù, vây bắt tù binh, xéo nát đất đai của bọn tù trưởng nhà giàu. Ngờ đâu anh lại rơi vào Đất Sáp Đen, chết trong rừng đất nhão! Ới anh ơi, anh về nhà mà ăn gan bò chúng ta trong mâm, ăn gan trâu trong thau, uống rượu ché tuk ché tang một mình một cần
[16; tr.74] thì ngày nay lời than khóc của người ở lại tiếc thương người đã khuất rất đỗi chân thành, họ khóc bằng chính tình cảm của mình dành cho người quá cố. Qua đây, ta cũng thấy lời than lời khóc của đồng bào Êđê cũng như lời than khóc của các dân tộc khác. Mở đầu lời khóc, là kể về người quá cố có những đóng góp gì cho xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình rồi sau đó họ mới kể về lí do vì sao người đã khuất bị chết và sau đó là lời gọi mời linh hồn người chết về ăn cơm, ăn gan trâu, ăn gan bò..và đỉnh cao của sự than khóc là sự tiếc thương của người thân khi không còn gặp mặt, người chết ra đi mãi mãi để lại bao nỗi buồn, tiếc thương của người ở lại. Nhưng cái hay, cái độc đáo của lời khóc khi có tang lễ của người đồng bào Êđê là cả cộng đồng, buôn làng đến chia buồn cùng gia đình có người mất, lời khóc của họ cũng có tính chất kể lể, buồn bã, xót thương…nhưng những vật cúng, vật tế người đã khuất rất gần gũi với đời sống hằng ngày của đồng bào Êđê như thịt, thịt bò, rượu ché tuk ché tang, cơm…đặc biệt là lời khóc của họ kéo dài, làm cho người đến chia buồn cũng phải rơi lệ, như thấu hiểu được nỗi mất mát khi có người thân trong gia đình qua đời. Ngoài ra, sử thi Đam Săn còn ảnh hưởng, tác động đến người đồng bào Êđê ở các lễ cúng sức khỏe, cúng thần linh Họ làm lễ cáo tổ tiên, tạ thần linh, cầu sức khỏe cho ai thì cúng rượu năm ché, trâu sổi một con.

Đặc biệt hơn, tác phẩm ảnh hưởng đến tư duy, nhận thức, đời sống tâm linh của người Êđê trong công việc sản xuất tạo ra của cải để nuôi sống gia đình. Như ta đã biết, tộc người Êđê luôn chọn những vùng đất bằng phẳng để dựng nhà cửa, để làm nương rẫy và luôn được thiên nhiên ưu đãi. Song công việc sản xuất vẫn không kém phần vất vả, thất thu do mưa lớn, sấm chớp rền trời làm cho cây cối ngả nghiêng, nương rẫy bị xói mòn, có lúc lại nóng như thiêu, như đốt, có lúc lại rất lạnh…thời tiết đã ảnh hưởng không ít đến đời sống con người. Và họ cho những thất thường của thời tiết đó là do cơn nóng giận của Yang (thần linh). Chính vì nhận thức như vậy, họ tin tưởng vào thiên nhiên huyền bí, cuộc sống muốn no đủ, yên lành thì người Êđê phải thờ cúng, nhờ sự giúp đỡ của các Yang. Vì vậy, hầu như mọi sinh hoạt hằng ngày, hoạt động sản xuất cũng như đời sống tinh thần người Êđê luôn thờ cúng Yang và theo họ quan niệm tất cả mọi vật, trên trời dưới đất đều có Yang. Từ Yang lớn như: Núi, sông, suối đến Yang mưa, gió, sấm, chớp…cho đến những vị Yang nhỏ nhất như ngọn cây, ngọn cỏ, cái cuốc, cái ché, cái chiêng…các khâu tương ứng với quá trình sản xuất cũng được gắn liền với các lễ nghi, lễ cúng như: Lễ cúng lúa mới, lễ tuốt lúa, lễ làm cỏ, lễ cúng bến nước, lễ cúng thần sông, thần núi…để đời sống cá nhân và đời sống cả cộng đồng được yên bình và khỏe mạnh. Chính vì vậy, người Êđê luôn thờ cúng các vị thần linh.

Tóm lại, ta có thể nói rằng tác động, ảnh hưởng của sử thi Đam Săn đối với sinh hoạt hằng ngày của đồng bào Êđê thể hiện nhiều mặt từ lời ăn, tiếng nói, đến hoạt động sản xuất, đến các lễ cúng sức khỏe, lễ cúng tổ tiên cho đến lễ tang ma…được thể hiện rõ nét, sinh động, rất riêng chỉ có người đồng bào Êđê mới có mà các dân tộc khác không thể bắt chước được. Và qua đây, chúng tôi nhận thấy rằng ảnh hưởng của sử thi Đam Săn đã tác động đến nhận thức của người đồng bào Êđê như khi đọc hay nghe sử thi họ có thể nhận thức được những điều có ý nghĩa, những lời hay, ý đẹp mà ông cha, người đã sáng tạo ra bản sử thi để họ cảm nhận, tiếp thu để từ đó họ có kinh nghiệm sống của mình phong phú hơn. Vì vậy, khan Đam Săn là một di sản văn hóa tinh thần độc đáo và có một giá trị vô cùng quan trọng trong kho tàng văn học dân tộc, nó có sức tác động vào lòng người, vào xã hội, có ý nghĩa giáo dục đạo đức to lớn. Người Êđê không chỉ tiếp thu như một công trình nghệ thuật bằng ngôn ngữ mà còn với tư cách là một kho tàng kinh nghiệm về đời sống xã hội, về phong tục tập quán.

2.5.2. Đối với sinh hoạt lễ hội

Cùng với sự tác động đối với sinh hoạt hằng ngày thì sử thi Đam Săn còn có tác động, góp phần tạo nên giá trị ảnh hưởng của sử thi. Đó là, nó còn tác động đến cả đến sinh hoạt lễ hội của người đồng bào Êđê.

Khi nói tới lễ hội của đồng bào Êđê thì người ta sẽ nghĩ ngay đến các lễ hội lớn của đồng bào Êđê như: Lễ hội đua voi, lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng…. Việc sinh hoạt lễ hội hay sinh hoạt kể khan thường được tập trung vào mùa khô, khoảng từ tháng 12 đến tháng 4 dương lịch năm sau, đây là khoảng thời gian chuẩn bị bước vào mùa mưa, mùa của những công việc nương rẫy kết thúc, mùa của hoa Êpang nở trắng xóa, hoa Êđúp nở thắm đỏ, mùa của ong say, bướm lượn, cảnh sắc thấm đẫm tình người làm cho mọi người xúc động nhớ đến tời hào hùng của cha ông ngày trước. Thế là, mọi người đông tâm nhất trí tổ chức lễ hội cúng Yang, tưởng nhớ đến tổ tiên, mùa ăn năm uống tháng chính là mùa lễ hội và cũng là mùa kể khan.

Đây cũng là thời điểm thu hút mọi người khắp nơi về tham dự, tại các điểm sinh hoạt cộng đồng quanh bếp lửa bập bùng. Sau khi lễ đã vãn, khoảng từ 9 đến 10 giờ đêm, mọi người đã thấm hơi men rượu cần, màn đêm bắt đầu se se lạnh cũng là thời điểm mọi người quay về tìm những câu chuyện xa xưa của cha ông. Trong đêm vắng lặng, mọi vật dừng như đều lắng xuống, giọng kể của các nghệ nhân được bắt đầu “câu chuyện mà bà con muốn nghe là thế này…giọng hể khan bắt đầu nhỏ sau đó to dần, lên bổng xuống trầm, mỗi lúc càng rõ. Dưới ánh lửa bập bùng bóng người nghệ nhân như ẩn như hiện, như hư như thực, giọng của người nghệ nhân kể khan như có một ma lực cuốn hút, hấp dẫn người nghe, làm cho người nghe tưởng chừng như đang sống trong thời cổ xưa, thế giới của các nhân vật anh hùng, nhân vật người đẹp làm cho họ cảm thấy tự hào hơn về đồng bào của mình.

Trong quá trình nghiên cứu, theo chúng tôi nhận thấy tác động của sử thi Đam Săn đến sinh hoạt lễ hội của người Êđê là lễ hội cồng chiêng. Trong sử thi Đam Săn tiếng chiêng lại vang lên khi có tin mừng, như muốn tất cả mọi cảnh, mọi vật lắng nghe: Hãy đánh những tiếng chiêng có âm vang, những tiếng chiêng có đồng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non. Hễ đánh lên là ở dưới rung các cây xà máng, là ở trên rung lên các cây xà ngang, là khỉ vượn quên đu cây, ma quỷ quên làm hại người, sóc chuột quên đào hang, rắn hổ, rắn mai đều chui lên nằm dài trên mặt, là hoẵng đứng ngẩn, thỏ ngồi ngơ, hươu nai đứng sững sờ, tất cả đều mải mê nghe tiếng chiêng
[16; tr.6]. Tiếng cồng chiêng của thời đại cổ xưa của cha ông ngày trước làm cho mắt người đọc thấy được toàn bộ không gian cũng như cuộc sống của mọi vật đều ngưng đọng lại trước sức hút kỳ lạ của tiếng chiêng thì ngày nay tiếng chiêng cũng được vang lên khi có lễ hội, sức vang của tiếng chiêng lại được vang xa để biểu hiện cảnh sinh hoạt, cảnh hội hè đông vui cùng với tiếng chiêng ngân vang không ngớt giữa rùng núi Tây Nguyên hùng vĩ bao la.

2.6. Ảnh hưởng của trường ca Đam Săn đối với tác phẩm văn học dân gian khác

Một tác phẩm văn học không những khẳng định được vị trí, tầm quan trọng mà còn có ảnh hưởng, tác động mạnh mẽ tới các các tác phẩm văn học khác.

Như sử thi Đam Săn là một trong những thiên anh hùng ca của đồng bào Êđê, nó có giá trị trường tồn, nó đã khiến biết bao nhà nghiên cứu và phê bình phải tốn nhiều giấy mực nhưng vẫn chưa khám phá hết giá trị của các phẩm.

Theo chúng tôi, trường ca Đam Săn nó có ảnh hưởng, tác động sâu sắc tới các sử thi Tây Nguyên khác cụ thể như sử thi Dam Di, Đăm Đơ Roăn. Dam Ktech Mlan thể hiện ở nhiều mặt như: Kết cấu, cốt truyện, nhân vật trong việc biểu đạt một nội dung cụ thể thông qua nhiều thủ pháp nghệ thuật khác nhau: Hiện thực, huyền ảo, tượng trưng, phóng đại, so sánh, đối lập…được vận dụng để biểu đạt không gian nghệ thuật sử thi. Nhưng trường ca Đam Săn tác động mạnh mẽ nhất đó chính là tính hiện thực thông qua các biện pháp nghệ thuật.

Như ta đã biết, một trong những đặc trưng của thể loại Sử thi là tính hiện thực lịch sử đậm nét. Sử thi phản ánh lịch sử của các dân tộc thời đại anh hùng khá sinh động bằng một lối tư duy nguyên hợp và một cảm quan lãng mạn, kỳ ảo, đẫm chất thần thoại. Hiện thực trong Sử thi là thiên nhiên, cuộc đấu tranh chinh phục những trở lực của tự nhiên và xã hội, những mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng dựa trên cơ sở luật tục của truyền thống… Nói chung, tất cả các khía cạnh của lịch sử phát triển của dân tộc làm nên tính phong phú, hấp dẫn riêng của các không gian nghệ thuật trong các tác phẩm sử thi anh hùng Tây Nguyên.

Tính hiện thực này được nổi bật trong các tác phẩm sử thi Tây Nguyên như: Những đoạn miêu tả núi rừng Tây Nguyên, miêu tả cuộc sống lao động, săn bắn, hái lượm, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội của các bộ tộc.

Sắc điệu của núi rừng Tây Nguyên được các nghệ nhân cảm nhận một cách tinh tế, sâu sắc, miêu tả chính xác từ những yếu tố nhỏ lẻ như một sắc hoa, mùi hương, tập quán sinh tồn của muôn loài… đến những biến động của khung cảnh tự nhiên hùng vĩ. Tất cả hiện ra trong từng chi tiết nghệ thuật đặc sắc: Trắng như hoa êpang, phơn phớt vàng như bông hoa ơring, mơn mởn như lá chuối non… mới nhú… Hay chàng Đam Săn thoăn thoắt như con rắn prao huê, nàng Hơ Nhí uyển chuyển như cành Blô sai quả (Đam Săn) hoặc: Dãy núi Chư pông mặc áo xanh, rừng xanh như mặt sông tháng ba(Đăm Đơ Roăn).

Những nét vẽ đơn giản này nằm rải trong các Sử thi, nó vừa miêu tả trực tiếp thiên nhiên vừa được dùng để so sánh khi miêu tả con người hoặc hành động, tính cách, quan hệ của con người, nhất là người anh hùng. Tất cả hợp lại tạo nên một không gian cao rộng, lấp lánh sắc màu, rộn rã âm thanh, ẩn chứa những nét dịu êm lẫn dữ dội. Đó cũng là không gian hoạt động của người anh hùng, giúp cho hình tượng này hoành tráng, kỳ vĩ, tăng sức hấp dẫn cho thể loại sử thi.

Không gian hiện thực khách quan sử thi còn là nơi diễn ra công việc thường ngày của con người với tất cả nhịp điệu sôi nổi vốn có. Ta gặp ở sử thi việc hái lượm, săn bắn, thuần hóa thú dữ, trồng trọt, chế tác công cụ, tạo dựng nhà cửa….. Chẳng hạn như sử thi Đam Săn công việc trồng trọt Hỡi bà con dân làng, hỡi các em, các cháu, hội hè đã vãn, bây giờ chúng ta phải lo làm ăn, sửa sang ruộng rẫy, kẻo hụt muối thiếu nước, đến quả kênh củ ráy cũng không có mà ăn (nói với tôi tớ). Bớ các con, chúng ta đi phát rẫy dọn ruộng, hãy đi rừng săn thú nào!

Thế là họ ra đi tìm rừng làm một rẫy bảy vạt núi.

Đến bây giờ họ đã phát xong cỏ, đốn xong cây. Ít lâu sau đó, họ đốt, rồi ai làm cỏ cứ làm cỏ, ai cào cứ cào… Mưa rào rồi, bớ anh em, ta tỉa nào[16; tr.40]. Hay sử thi Dam Kteh Mlan
Hồn lúa đã lên kho, vụ thu đã kết thúc. Nước mưa cũng đã cạn, kê đã về đủ trên lẫm, lúa đã về đủ ở nhà. Từ nay dân làng chỉ còn mỗi việc đi kiếm củi hái rau, trai lo xúc tát, gái lo hái lượm giúp vào bữa ăn gia đình, ngoài ra cũng lo việc sửa sang nhà cửa[16; tr.127]. Qua hai đoạn trích trên, ta thấy không gian lao động và không gian quan hệ đời thường này đã tạo nên vẻ đẹp yên bình, cả cộng đồng cùng chung tay giúp sức tạo ra của cải vật chất để sung túc, giàu có cho buôn làng. Nó cũng là không gian văn hóa làm nên cuộc sống phong phú, ẩn chứa nhiều giá trị sâu xa.

Cách miêu tả hiện thực ở sử thi chịu ảnh hưởng đậm nét của nghệ thuật thần thoại. Chẳng hạn như sử thi Đam Săn khi miêu tả cảnh Đam Săn chiến thắng trở về Đam Săn mở hội ăn uống đông vui như mùa khô năm mới. Nhà Đam Săn đầy khách, tôi trai tớ gái không còn chỗ chen chân, các khách tù trưởng đều từ phương xa đến…mở tiệc ăn uống linh đình, thị lợn, thịt trâu ăn không ngớt, thịt lợn ăn đến cháy đen hết ống le, thịt dê ăn đến cháy đen hết ống lồ ô, tiết bò tiết trâu đông đen khắp sàn sân, dây cồng chiêng giăng như mạng nhện, chỉ vàng chỉ đỏ như hoa dam piêt[16; tr.56].

Hay Khan Đăm Tek Mlan miêu tả cảnh đi săn Một tháng ở trong rừng, chiều chiều đi săn, sáng sáng đi bắt cá, đến nay thịt nai đã đầy nhà, thịt hươu đã đầy bếp, thịt mang thịt hoẵng đã đầy lán trại. Cá khô thì gắp này gắp kia, sọt này sọt nọ…[16; tr. 159]. Như vậy ta thấy, hiện thực khách quan được phóng chiếu bằng cảm quan lãng mạn, thần kỳ. Công việc kiếm sống gian khó trong đời sống đời thường của người dân làng bỗng trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả hơn, nương rẫy rộng bao la, con người dễ bắt được các loài thú, của cải vật chất vốn hiếm bỗng trở nên vô kể, cuộc sống ấm no, hội hè liên miên, khách tứ xứ đến ăn mừng dầm dề mà chủ nhà vẫn vui, tiếp đón nồng nhiệt. Cách miêu tả cuộc sống sung túc trong các sử thi làm nên một không gian nghệ thuật vừa hiện thực vừa huyền ảo – lãng mạn thể hiện khát vọng lý tưởng thời đại.

Hiện thực trong sử thi còn là lớp không gian văn hóa. Sử thi anh hùng không đi vào miêu tả cụ thể chi tiết những sáng tạo văn hóa nhưng qua việc miêu tả hành động, miêu tả không gian sinh tồn, quan hệ của người anh hùng trung tâm trong sử thi, chúng ta thấy một lớp không gian văn hóa đa dạng, và phong phú.

Đó là, người anh hùng sống trong một không gian ngổn ngang những vật thể nhân tạo. Ta bắt gặp những buôn làng sầm uất, một trăm nhà về phía nam, một trăm nhà về phía Bắc… nhà dài như một hơi chiêng, sàn hiên rộng như một hơi ngựa phi, nhà trạm trổ nhiều hoa văn, tượng thú… Trong nhà chiêng, ché, trống, khăn, áo, khố, hoa tai, chà gạc, giáo gươm, rìu đồng… (Khan Đam Săn) nhiều vô kể, dấu hiệu của sự giàu có. Giàu có cũng là một đặc trưng của người anh hùng. Chúng ta hiểu đây là biểu hiện của cuộc sống lý tưởng, một biểu hiện của khát vọng ấm no. Nó thể hiện niềm tự hào về danh tiếng hơn là ẩn chứa ý nghĩa của sự tích lũy xã hội ở giai đoạn đầu thời kì tư hữu và nô lệ. Người anh hùng Đam Săn không ky cóp mà càng giàu càng rộng lượng, bao dung. Vật chất dưới mắt kẻ tham lam mới là đối tượng của sự chiếm hữu, cướp đoạt và đó là mầm mống của tai họa. Do vậy lớp không gian văn hóa vật chất này một mặt đã góp phần thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người anh hùng, của quan hệ xã hội lý tưởng, mẫu mực thời công xã, mặt khác nó cũng soi rõ nét những nết xấu xa ẩn chứa trong tâm địa của con người.

Đặc biệt, chiến tranh là hiện thực sôi động nhất trong thời đại sử thi. F. Engles khi nghiên cứu giai đoạn này trong lịch sử phát triển của loài người đã gọi đây là giai đoạn mà Chiến tranh và các tổ chức để tiến hành chiến tranh đã trở thành chức năng thường xuyên trong sinh hoạt của người dân…Chiến tranh là hoạt động sống còn của các bộ tộc cổ đại, do vậy chinh phạt là công việc của cả cộng đồng.

Trong sử thi một không gian chiến trận bề bộn, kỳ vĩ, đầy tính chất đối lập. Chất hiện thực thể hiện ở sự kiện, chất huyền ảo lãng mạn làm giãn nở không gian chiến trận, đẩy xung đột đời thường lên tầm thần thánh- vũ trụ, tính chất đối lập thể hiện quan niệm của nhân dân về chiến tranh, về người anh hùng cũng như ước mơ, lý tưởng của họ. Chiến tranh trong sử thi thường bắt nguồn từ những tham vọng chiếm đoạt của cải, đất đai, nô lệ. Nó thường được hình tượng hóa bằng việc cướp đoạt Người đẹp (người yêu, vợ hoặc mẹ của người anh hùng) dẫn đến buôn làng không còn được yên ổn, uy danh của người anh hùng bị xúc phạm và người anh hùng phải tổ chức chinh phạt. Cả buôn làng cùng tham gia chiến trận. Những cuộc tụ binh trên quy mô rộng lớn thể hiện uy danh của người tù trưởng như khan Đam Săn: Hãy mời tất cả bà con, đi gọi về đây bàn dân thiên hạ, cả người Bih rộng miệng, cả người Mông tai dài, người người đem theo hồ- lô nỏ bẫy! Hãy đi gọi về đây tất cả để ta cùng đi đánh kẻ thù, bắt tù binh, xéo nát đất đai của tên tù trưởng nhà giàu Mtao Grự
[16; tr.35], những lần xuất trận đầy khí thế thể hiện sức mạnh của cả cộng đồng Hàng nghìn, hàng vạn người cùng đi, đông như bầy cà tong, đặc như bầy thiêu thân, ùn ùn như kiến như mối…Một trăm người đi trước, một nghìn người cất bước theo sau, một mình Đam Săn cao lênh khênh đi giữa. Tôi tớ kéo theo từng lớp lớp, bóng người đi rợp cả một vùng[16; tr.35]. Cuối cùng kẻ gây hấn thường thất bại, người anh hùng chiến thắng, cộng đông lại mở hội ăn mừng, hội hè lại liên miên.

Trong không khí rộn ràng của cảnh chiến trận hoành tráng, cảnh săn bắt, canh tác đông vui, không thể không thể không nói đến sự góp mặt của những sinh hoạt hội hè, vui chơi nhộn nhịp, những nghi lễ trang trọng, những cuộc đón tiếp linh đình. Chẳng hạn lễ cồng chiêng trong sử thi Đam Săn Hãy đánh lên các chiêng, có tiếng âm vang, những hiêng có đồng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non” [16; tr.10] Hay lễ thả diều trong sử thi Dam Ktek Mlan
Diều của Dam Ktek Mlan, chiều cao tám dây chằng, chiều ngang năm dây. Con diều bay lên gặp gió, bộ ve kêu rộn ràng vang khắp các tầng mây trắng mây đen…[16; tr.146]. Những không gian văn hóa phi vật thể này tạo sinh khí cho những buôn làng heo hút giữa đại ngàn rừng núi Tây Nguyên hoang vu trở nên rộn ràng, nhộn nhịp, đông vui và làm cho họ cuộc sống một cuộc sống tích cực, tiến bộ hơn.

Ngoài ra ta còn bắt gặp ở sử thi một không gian văn hóa tín ngưỡng đa thần. Lớp không gian này mở ra quan hệ của con người và thần linh (Trời, Yang).

Con người luôn kính nể, ngưỡng vọng thần linh nhưng lại muốn vươn lên ngang tầm với thần linh Đăm Noi cầu xin thần Rồng giúp làm đẹp con thuyền của mình nhưng khi thần giúp kẻ xấu thì Đăm Noi vẫn đánh và tiêu diệt thần hoặc là Đam Săn chặt cây thần Smuk…” việc Đam Săn đòi cưới nữ thần mặt trời là một bước con người tự nâng mình lên ngang tầm với thần thánh, tạo một không gian bình đẳng với thần linh, biểu hiện khát vọng chinh phục, chế ngự tự nhiên. Đam Săn thất bại trong rừng Sun Yrit, thể hiện hạn chế của con người trên đường chinh phục tự nhiên. Đó như là bi kịch của con người thời cổ đại.

Sử thi còn xác lập một không gian văn hóa ứng xử tốt đẹp. Nhiều cung cách giao tiếp, ứng xử dựa trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng nhau. Khi giao tiếp họ thường hạ mình, khiêm nhường nhưng vẫn giữ vị thế, bản lĩnh của chủ nhà Hơ Âng mời khách (Sử thi Đam Săn) Cơm chúng tôi hôi mùi mốc, nước chúng tôi tanh mùi bùn, gà chúng tôi gà diều tha, người dọn cơm mời anh em là những con mụ đàn bà què quặt, ăn mặc xộc xệc, trông như những con két diều tha, như những con vẹt diều mổ, mời anh em ăn cho Còn khách đáp lại bằng những lời tán dương, tế nhị, khôn khéo Đến nhà chị, chúng tôi ăn chừng ấy. Ở nhà chúng tôi, một quả dưa hấu chúng tôi ăn ba đời, một quả dưa gang chúng tôi ăn ba năm đấy chị ạ [16; tr. 9]. Quan hệ trên tạo nên sự gắn kết và sức mạnh cộng đồng cùng sống, tôn trọng, nhường nhịn lẫn nhau. Cách ứng xử đẹp trên tạo thêm cho sử thi Đam Săn đậm đà tính nhân văn. Đến nay những lời hay, ý đẹp của những lời nói trên vẫn còn nguyên giá trị.

Bao gồm nhiều khía cạnh văn hóa khác nhau, chúng tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu được một số thành tựu của văn hóa của sử thi. Các lớp không gian văn hóa không chỉ làm phong phú nội dung mà còn làm cho sử thi thêm hấp dẫn, đặt nhân vật sử thi vào nhiều mối quan hệ văn hóa- xã hội đa dạng khiến hình tượng người anh hùng trở nên kỳ vĩ lại vừa gần gũi đời thường. Cuộc sống vốn yên tĩnh xa xưa của buôn làng ẩn mình dưới bóng núi rừng Tây Nguyên trở nên sống động, âm vang, bừng sáng trong không gian văn hóa đa sắc thái của sử thi.

Tóm lại, hiện thực trong sử thi được phản ánh khá đa dạng, sinh động bằng một lối tư duy nguyên hợp và một cảm quan lãng mạn, kỳ ảo đậm chất thần thoại. Hiện thực trong sử thi là thiên nhiên núi rừng của Tây Nguyên, cuộc sống lao động săn bắt, hái lượm, sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng và công cuộc đấu tranh thiên thiên, đấu tranh xã hội của các bộ tộc… được nghệ nhân cảm nhận một cách tinh tế, miêu tả chính xác hiện thực lịch sử của thời đại khan. Nói chung, tất cả các khía cạnh của lịch sử phát triển của đồng bào Êđê cổ xưa làm nên tính phong phú, hấp dẫn, âm hưởng hoành tráng, ý nghĩa sâu sắc, đầy tính nhân văn.

2.7. Tiểu kết

Ngôn ngữ sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng là một loại hình thuộc thể loại tự sự dân gian, có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu nữa
[8; tr.772] nhưng bản chất của ngôn ngữ của sử thi Đam Săn còn mộc mạc, rất gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày trong cuộc sống của người Êđê xen lẫn với quan niệm Vạn vật hữu linh của con người Êđê đã làm cho ngôn ngữ sử thi có một phong cách riêng biệt, có sức trường tồn khiến người nghe, người đọc luôn say sưa trong thế giới hào hùng của thời kỳ cổ xưa.

Thông qua các biện pháp nghệ thuật so sánh, ngoa dụ, mô phỏng và biện pháp lặp…đã tô điểm cho sử thi Đam Săn những nét lung linh huyền ảo, khiến ngôn ngữ sử thi như có một thứ ma thuật làm cho người nghe, người đọc đắm say trong thế giới vừa hư vừa thực, như chìm sâu trong khát vọng vô cùng, niềm đắm say bất tận của tộc người Êđê thời viễn xưa.

Qua đó, sử thi Đam Săn còn có tác động, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt hằng ngày và sinh hoạt lễ hội của đồng bào Êđê. Nó có tác động vào lòng người, có ý nghĩa giáo dục đạo đức, ý thức dân tộc cho mọi thành viên trong cộng đồng nhớ về cội nguồn, để xứng đáng với cha ông, với tổ tiên. Đặc biệt nó còn ảnh hưởng, tác động qua lại với các sử thi Tây Nguyên khác từ nội dung cho đến hình thức, trong đó tính hiện thực là hơn cả.

KẾT LUẬN

Sử thi Đam Săn đã tạo sức hút trong tôi ngay từ ý tưởng đầu tiên, càng tìm hiểu về tác phẩm, chúng tôi càng hứng thú, say mê và dường như được hòa mình nhịp sống hào hùng của thời đại khan, được tiếp xúc với thế giới nhân vật vô cùng đông đảo, đa dạng, mỗi nhân vật mang một nét riêng biệt được các nghệ nhân xây dựng bằng trí tưởng tượng tuyệt vời bay bổng của mình.

Một trong những yếu tố góp phần tạo nên giá trị độc đáo của tác phẩm chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ trong sử thi Tây Nguyên nói chung và sử thi Đam Săn nói riêng là Một loại hình tự sự dân gian. Có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm cả các yếu tố nghệ thuật của ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu nữa, những yếu tố nghệ thuật ngôn ngư đó kết hợp hài hòa, gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên giá trị không thể nào bắt chước được của các bản sử thi anh hùng
[8; tr.772].

Dựa vào kết quả của các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ sử thi và sau một quá trình khám phá, nghiên cứu thiên sử thi anh hùng Đam Săn, chúng tôi đã tìm hiểu được cái hay, cái độc đáo, tìm thấy giá trị đặc sắc về nghệ thuật sử dụng ngôn từ của người đồng bào Êđê thời cổ xưa như sau đây:

Bản chất nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của sử thi Đam Săn gần với ngôn ngữ hằng ngày trong đời sống của đồng bào Êđê với quan niệm “Vạn vật hữu linh” đã làm cho ngôn ngữ sử thi có một phong cách rất riêng biệt, hấp dẫn mà lâu nay các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu.

Ngoài sử dụng ngôn ngữ hằng ngày, sử thi còn sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh. Hình ảnh luôn luôn là phương tiện diễn đạt quan trọng trong các tác phẩm văn học mà tác giả lựa chọn để diễn đạt bức thông điệp gửi gắm trong đó. Chính vì vậy mà người độc giả muốn hiểu được sâu sắc thì phải hiểu được cách sử dụng hình ảnh của đồng bào Êđê.

Những hình ảnh được sử dụng làm phương tiện diễn đạt trong sử thi được thể hiện khá phong phú, đa dạng và được diễn đạt gắn liền với nếp cảm nghĩ riêng của tộc người Êđê. Hình ảnh đó có thể là do con người tạo ra hoặc những hình ảnh quen thuộc vốn tồn tại trong thiên nhiên.

Các hình ảnh khi đi vào sử thi Đam Săn thường gắn liền với cuộc sống con người và cảnh sắc miền núi rừng Tây Nguyên. Đặc biệt là một số hình ảnh được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm bằng cách lặp đi lặp lại một số hình ảnh cố định. Theo chúng tôi, hình ảnh phong phú cùng với sự lặp lại hình ảnh không hề gây cảm giác thừa hay gây tâm lí khó chịu cho người độc giả mà chính vì điều này mà sử thi luôn có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc, người nghe.

Ngoài ra, trong sử thi Đam Săn còn sử dụng ngôn ngữ kịch thông qua biện pháp đối lập trong ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật. Còn một yếu tố quan trọng nữa tạo nên ngôn ngữ kịch của sử thi Đam Săn mà ta không thể nào không nói tới khi nghiên cứu về trường ca này, đó chính là ngôn ngữ diễn xướng sinh động của người nghệ nhân kể khan, bao gồm các yếu tố: Lời kể bình thường, lời hát lên bổng xuống trầm và điệu bộ cùng sắc thái diễn cảm của người nghệ nhân dân gian. Trong đó xen kẽ với câu chuyện, thỉnh thoảng người ta nghe tiếng nghệ nhân mô phỏng tiếng thác đổ, tiếng ngựa hí, tiếng chiêng vang lừng, và còn xen lẫn với giọng hát buồn đưa người đã mất về nơi chín suối, lời cầu khẩn thần linh trong các nghi lễ cúng tế…Các yếu tố kể, hát và điệu bộ diễn cảm trong ngôn ngữ diễn kể của người nghệ sĩ kể khan tạo nên một hình thức ngôn ngữ sân khấu tuy còn hồn nhiên, giản dị nhưng cũng đã tạo nên sức hấp dẫn cho người nghe thưởng thức khan.

Như vậy, sinh hoạt văn hóa kể khan của người Êđê trở thành một phong tục đẹp, có ý nghĩa bồi dưỡng đạo đức, ý thức dân tộc cho mọi thành viên trong cộng đồng nhớ về cội nguồn của dân tộc mình.

Thông qua các biện pháp tu từ như: So sánh, phóng đại, ngoa dụ, mô phỏng và biện pháp lặp…được các nghệ nhân sử dụng rất đắt. Hệ thống các biện pháp được cấu tạo gắn bó hữu cơ với nhau, tạo nên một vẻ đẹp riêng, một phong cách riêng của sử thi, đó là phong cách lãng mạn hào hùng đầy sức hấp dẫn của sử thi Đam Săn.

Tóm lại, Trường ca Đam Săn như một nét văn hóa đặc sắc, độc đáo của vùng Trường Sơn Tây Nguyên, là nguồn tư liệu quý về xã hội tộc người trong kho tàng văn hóa Việt Nam. Nó góp phần làm phong phú thêm dòng hợp lưu của nền văn hóa Tây Nguyên nói riêng và nền văn hóa đa sắc màu của Việt Nam nói chung. Tuy vậy, nó đang đứng trước nguy cơ mai một (do nhiều nguyên nhân). Vì vậy, việc sưu tầm và nghiên cứu sử thi đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Vấn đề về sử dụng ngôn ngữ của sử thi Đam Săn còn nhiều điều mới mẻ, vì vậy, cần đi sâu vào nghiên cứu để tìm thấy giá trị độc đáo của sử thi và đồng thời nghiên cứu để phục vụ cho việc giảng dạy phần văn học dân gian sau này.

Trường ca Đam Săn xứng đáng là thiên anh hùng ca Một đi không trở lại(C.Mác) ca ngợi cuộc sống đầy khát vọng của tộc người Êđê trong buổi đầu hình thành bộ tộc. Tác phẩm sẽ mãi mãi vang vọng trong lòng người độc giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Ngọc Anh, Y Điêng, (1963), Trường ca Đam Săn, Nxb Văn học Hà Nội.

2. Trương Bi, Ywơn: Dăm Tiông, sở văn hóa thông tin Dăk lăk 2002.

3. Chu Xuân Diên (1960), Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đam Săn, nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 3.

4. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.

5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), 2010, Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Việt Nam.

6. Nguyễn Văn Hoàn (chủ biên), Đam Săn sử thi Êđê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

7. Lê Bá Hán (chủ biên), 1994, Từ điển tiếngViệt, Nxb Giáo dục.

8. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1998), (tái bản lần 3), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam.

9. Đinh Gia Khánh (2000), Điển cố văn học, Nxb Văn hóa.

10. Đinh Trọng Lạc (2000), 99 phương diện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.

11. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Nguyễn Thái Hòa, (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

12. Lê Mai (1975), Trường ca Tây Nguyên, Nxb giáo dục Hà Nội.

13. Buôn Krông Tuyết Nhung, Khảo sát sử thi Êđê, luận văn thạc sĩ năm 2000.

14. Buôn Krông Tuyết Nhung, Văn hóa mẫu hệ trong sử thi Êđê, Nxb Đại học Khoa học xã hội nhân văn, Tp. Hồ Chí Minh.

15. Nguyễn Hữu Thấu (sưu tầm, dịch), (1998), Sử thi Êđê Khan Đam Săn, Nxb chính trị Quốc Gia.

16. Trương Thông Tuần (2006), Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ sử thi Tây nguyên, Sở Văn hóa thông tin Đăk Nông.

17. Trương Thông Tuần (2008), Ngôn ngữ được sử dụng trong sử thi Tây Nguyên, Tạp chí nguồn sáng dân gian, số 1-2008), Hội văn nghệ dân gian Việt Nam.

18. Trương Thông Tuần (2005), Đặc điểm sử dụng hình ảnh trong sử thi Đam Săn, Kỷ yếu hội thảo khoa học Ngữ học trẻ.

19. Georges Condominas (1997), Không gian vùng Đông Nam Á, Ngọc Hà, Thanh Hằng dịch, Hồ Hải Thụy hiệu đính, Nxb Văn hóa, Hà Nội.

 

PHỤ LỤC (*)

CÁC BIỂU HIỆN SỬ DỤNG NGÔN NGỮ TRONG TRƯỜNG CA ĐAM SĂN

 

STT 

Sử dụng ngôn ngữ hình ảnh

Đoạn trích

Ý nghĩa 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1 

 

 

 

    
 

 

 

 

 

 

Đồ vật

 

 

Ché (ceh) 

Ma\ kpiê ceh gê ti la\n, kpiê ceh ga\n hla\m hijê, kpiê mơ\ aê aduôn đưm.

(Lấy rượu ché găn trong hầm, lấy rượu ché ghê trên lẫm, những ché rượu ông bà để lại xưa).

- Vật để đựng rượu, là sản vật của cha ông để lại.

 

 

 

Chiêng (cing)

Tiong cing mung cing mai, cing tlai pra\, tông “ia\ hra\ car `u nao. (Hãy đánh lên những tiếng chiêng có âm vang, những tiếng chiêng có tiếng đồng bạc, đánh nhè nhẹ cũng vang vọng khắp núi non).

-Vật dụng dùng trong sinh hoạt lễ hội, nghi lễ.

-Thể hiện nét đẹp, văn hóa cồng chiêng của dân tộc.

 

 

 

 

 

 

 

Chà gạc(Kga\)

Ana\n truh kơ dlông, tiêt he\ kga\, due\ nao tơ ôk, cha\p ti kga\ tai, pai ti kga\ bưng, bung dưng kdâo ti la\n. Kâo dja\ kga\ ênah kâo riah dliê, kâo mdjiê êmeh hla\m dhông, êmông hla\m cư\, grư\ ak hla\m “ro\ng kyâo, koh ksơ\k mtâo hla\m êlan klông.

(Vào đến nhà trong, gác chà gạc lên rồi, Đam Săn đi thẳng vào nhà, chàng cầm theo cây chà gạc tai, quơ luôn cả cây chà gạc bưng của chàng rồi nhảy phóc xuống đất ra đi. Với cây chà gạc phát rẫy này, tôi gạch rừng mà đi. Tôi đã giết tê giác trong thung, giết cọp beo trên núi, giết kên kên quạ dữ trên ngọn cây, chém tha ma thiêng quỷ ác trên đường đi).

-Dụng cụ để phục vụ cho sinh hoạt con người, là vật để bảo vệ bản thân mỗi khi đi rừng.

- Biểu hiện của một tù trưởng nhà giàu.

 

Chiếu(a`uê), chăn(aba\n), gối (ana\l)

Hlei dja\ a`ue, dja\nao ko `u! Hlei dja\ aba\n, dja\ ao ko `u! Hlei dja\ ana\l ko\, dja\ nao ko `u.

(Ai mang chiếu thì mang chiếu ra, ai mang chăn thì mang chăn ra, ai mang gối thì mang rối ra).

- Vật dụng để phục vụ cho việc sinh hoạt hằng ngày.

- Thể hiện sự giàu có của gia đình tù trưởng.

 

 

 

Con quay ( Tuôr)

Ana\n êkei Dam Săn bi đah tuôr hruê bhông tlam, tlam bhông aguah.

(Bây giơ Đam Săn chơi quay, chàng chơi suốt ngày cho đến chiều, thâu đêm cho đến sáng).

- Là trò chơi ưa thích của thanh niên, trai Êđê.

- Đồng thời đây cũng là trò chơi trong các lễ hội của người đồng bào Êđê.

 

Tên nỏ (Hna)

 

 


 

Gùi (Êbu\ng gui) 

Đi\ êman ro\ng soh, dja\ ba tiông hna.

(Người mang theo tên nỏ, chúng cứ thế mà đi).

Anei yơh H’~^, H’ Bh^ kpla\k ma\ ti piêu pro\ng nao gui êa.

(Nghe vậy, Hơ Nhị vớ ngay một cá gùi lớn, Hơ Bhị vớ ngay một cái gùi lớn, hai chị em đi ra cõng nước).

- Là vũ khí trong săn bắn, chiến tranh.

 

 

- Dùng để đựng và vận chuyển đồ dùng sinh hoạt.

 

 

 

Âu đồng, chậu thau (prang)

Chia\m “lak chia\m brung tơ giê ênur tơl yô, “ơ\ng êmô kbao ju\ wa\t sang, mti\l prang tơl amâo ti anôk dưm.

(Thịt bò, thịt trâu đen nhà. Âu đồng, chậu thau không còn chỗ để).

- Đồ để đựng thịt, rau, củ quả.

- Thể hiện sự giàu có của tù trưởng nhà giàu.

 

 

 

 

 

Váy (M’iêng), khăn (Cia\m)

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

Khăn nhiễu (kưn)

Ana\n H’~^, H Bh^ dê lui m’iêng hđa\p, pra\p m’iêng mrâo, ka yâo ao anei, ma\ ao adih. _ar m’iêng brung mnga k’u\, h’ô ao ju\ mnga êmiê, ao m’iêng Aê Adiê thiê mơ\ng dlông, tla\ dla\m brei mơ\ng dlông.

(Hơ Nhị, Hơ Bhị bỏ váy cũ, mặc váy mới. Váy này chưa đẹp lại lấy váy khác. Cả hai chị em đều mặc váy sọc điểm hoa kơ-ụ, mặc áo đen điểm hoa êmiê, những váy áo từ trên cao Ông Trời đã ban cho, từ trên cao Ông Trời thả xuống).

 

Kla\ sah mdro\ng êdi anak ara\ng anei, sah pro\ng mdro\ng ana đua kưn kdu\ng êdi.

(Qủa đây là một tù trưởng giàu mạnh thật, một tù trưởng giàu mạnh, đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa thật.)

- Trang phục truyền thống của người phụ nữ Êđê.

- Nét đẹp văn hóa tượng trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ Êđê.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Là loại khăn bịt đầu của tầng lớp tù trưởng nhà giàu.

- Trở thành nét đặc trưng của các tù trưởng nhà giàu nhiều đời.

 

 

Đồ vật thần linh

 

 

Cây thang vàng (Ê`a\n)

 


 

 

Anei Aê Adiê mtru\n brei ê`a\n mah. Anei `u đ^ yơh `u dê truh tơ dlông.

(Ông Trời thả xuống một cái thang vàng. Đam Săn leo lên).

- Là con đường đi lại giữa con người và thần linh.

- Là kênh thông tin liên lạc giữa con người với thần linh.

 

 

 

Vòng đồng (Kông)

Thâo hli tian sah mdro\ng, koh be\ kông êpa, đua braih ê’i.

(Những chàng trai có tài ăn nói, giỏi lí lẽ, biết thuyết phục bọn tù trưởng nhà giàu, các người hãy lấy dây đồng đem theo nhiều sải).

- Vật để làm tin giữa các tù trưởng.

 

 

 

 

 

Cái cồng, cái chiêng (}ing)

Ih poh brei cing ana, knua hgơr pro\ng, knah hlo\ng m`ê chê kngan, êman knô ana amâo tla\p tơ adring, klei cing char amâo tla\p tơ ktai!.

(Bà con anh em hãy giúp ta đánh lên các chiêng cái trống to, đánh lên các cồng hlong hòa nhịp cùng các chũm chọe xoa, để cho voi đực, voi cái ra vào sàn hiên không ngớt, trên giá treo chiêng không bao giờ vắng bóng cồng chiêng!).

- Những vật dụng thường dùng trong sinh hoạt lễ hội, nghi lễ của đồng bào Êđê.

- Thể hiện nét văn hóa cồng chiêng của đồng bào Êđê.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cây cối, hoa quả

 

 

Cây xà dọc (êyông)

 

 

 

 

Dây cây êdung (êjung), đốt dây mniêng (mniêng)

Cang yang hruê mơ\ng êyông bhông tlam.

(Chờ lúc mặt trời ngang cây xà dọc phía tây).

 

 

 

 

Atu\t êjung mniêng tơ anei?

(Ai là đốt dây edung, đốt dây mnieng ở cái làng này?).

- Dùng để làm nhà, và dùng để tính giờ.

 

 

 

 

- Là những loài cây có nhựa ngứa.

- Biểu tượng người đầu làng xấu.

 

 

Cây le (Alê), Cây lồ ô (M’ ô)

 

 

 


Cây mdơ\h(mơ\ng mdơ\k), cây êbua (mơ\ng êbua)

 

 

 


 

Cây klông (klông hra) 

 

 

Ih “ơ\ng alê, ih “ơ\ng m’ô (Mày ăn cây le, mày ăn cây lồ ô).

 

 

 

 

Mil mơ\ng mdơ\k, kơ\k mơ\ng êbua, khua mơ\ng hmei, hđeh mơ\ng hmei.

(Ở đây chỉ có cây mdơ\k, chỉ có cây êbua, chủ là từ chúng tôi, mà tớ cũng là chúng tôi).

 

Ơ nuê wơi, dluh phu\n mnu\t, kdlu\t phu\n klông hra.

(Ơ nuê ơi, thế là cây đa không còn nữa, cây klông đã đổ rồi.)

- Là loài cây thường được người đồng bào Êđê dùng làm các vật dụng, đồ dùng trong sinh hoạt hằng ngày.

 

- Là những loài cây nấu ăn ngon như rau.

- Ý câu này là làng này ai cũng như ai.

 

- Tượng trưng cho người tù trưởng có uy tín rộng.

- Là hình ảnh người tù trưởng có sức mạnh thu hút quần chúng.

Cây đa (Mnu\t), cây sung (Mnga har)

Nao ti klông êman.Ana\n truh tơ phu\n mnu\t phu\n hra, dôk he\ ti na\n. _uh he\ mnga mnu\t cuh dua, mnga hra cuh tlâo.

(Họ lần theo dấu vết chân voi thì đến một cây đa, một cây sung. Họ dừng lại đó nhìn lên thì thấy một chùm hoa đa hai đóa, một chùm hoa sung ba đóa).

- Biểu tượng cho người đầu làng truyền thống của người Êđê.

- Biểu tượng của thần số mệnh, thần am^ ba ama “a\ (thần mẹ cưu mang, thần cha dịu cõng).

 

Hoa kơ – ụ, hoa Êbang, hoa êmiê, hoa to\ng bi

_ar kpin brung mnga k’ u\, pa\n chia\m ju\ mnga êmiê, êa tio\ng bi. (Chàng quấn một khố sọc điểm hoa kơ-ụ, chít một khăn đen điểm hoa êmiê, hoa tong bi, hoa êpang).

- Là loài hoa đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên.

- Vẻ đẹp của người anh hùng được so sánh đẹp như hoa.

 

 

 

 

Cây smuk (Smu\k), cây tang (“lang)

Kyâo smu\k yơ\ anei, kyâo smu\n, phu\n amâo “uh, êdu\h amâo mâo, kyâo thâo mjing H’~^, H’ Bh^. Ana\n kyao smu\k ngo\ sang, kyao “lang yu\ adring, kyao thao mjing H’ ~^, H’ Bh^ (Cây smuk, cây mun, những cây gốc không thấy, ngọn không có, những cây đã sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị đó, ông ạ. Đó là cây smuk ở phía đông nhà, là cây tang ở phía tây hiên, những cây sinh ra Hơ Nhị, Hơ Bhị).

- Biểu trưng cho linh hồn của Hơ Nhị và Hơ Bhị.

- Cây tang tượng trưng cho thần tốt. Thường được treo hay cắm ở đầu nhà, ở đường đi để trừ ác, giảm đi điềm dở.

 

 

Cây cối

Thần linh

 

 

Cây Tông Lông (Kyâo Tông lông)

Phu\n hla\m êa, ana hla\m dhông, kyâo Tông lông bhia\n mâo mơ\ng đưm. Phu\n `u Aê Adiê pla, ana `u Aê Adu mbu\, kyâo cia\ng ru\ cia\ng pro\ng hja\n. Kyâo k’uh, kyâo k’ông, kyâo “a\ng dhông “a\ng troh, pha\ be\ `u joh, pha\ be\ `u le\, kyâo myang!

(Gốc trong suối, thân trong thung, đó là cây Tông Lông vốn có từ xưa. Thân do trời trồng, gốc do trời vun, tự nó vực dậy, tự nó vươn lên. Đó là một cây cành lá xum xuê, một cây của vực thẳm khe sâu, gẫy phía nào không rõ, ngã phía nào không hay. Cây thần đó ông ạ).

- Là cầu nối, thông tin liên lạc giữa con người và thần linh.

 

 

 

 

- Tượng trưng cho thần linh che chở cho những người bị hãm hại.

 

 

 

 

 

 

 

3 

 

 

 

 

 

 

 

Động vật

 

 

Trâu (kbao) bò (Êmô)

, lợn (u\n), gà (mnô)

Car êmô, dê|c ho\ng war u\n, rai war u\n, dê|c ho\ng war kbao, rai war kbao.

(Bãi thả trâu bò, hắn tránh quanh chuồng lợn, Đam Săn phá chuồng lợn, hắn tránh quanh chuồng trâu, Đam Săn phá tan chuồng trâu).

- Vật nuôi cung cấp thịt cho con người.

- Dùng để làm vật cúng bái trong các nghi lễ đối với thần linh.

 

 

 

Ngựa (Aseh), voi (Êman)

Đ^ aseh knô ro\ng prôk chia, đ^ aseh ana ro\ng prôk kê#`, êran dê\` wê` tloh rai kơ pral, kru aseh êman si “ô` klei.

(Người cưỡi ngựa đực lưng sóc xia, người cưỡi ngựa cái lưng sóc kênh, chân voi như bện thừng).

- Là con vật chở hàng, chở người.

- Tượng trưng cho sức mạnh của người anh hùng, sức mạnh giàu có của người tù trưởng.

 

Chim sẻ ( C^m ngiêk), chim ngói (C^m ktrâo)

 

 

 

Chim chut mẹ

(Ana c^m cu\t) 

 

Ơ ngiêk êbâo ktrâo kl^ng.

(Ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói).

 

 

 

Hlei ko\ p^n êa, ana c^m cu\t?

(Đầu giếng nước này là ai, ai là chim chut mẹ?)

- Là những loài chim hay phá mùa màng.

- Tượng trưng cho những người nô lệ.

 

- Biểu tượng của người đầu làng tốt.

 

Chèo bẻo (mling), bồ chao (mlang)

 

 

 

 

Ve giut (wai yut), ve tê (wai tê).

 

Kpiê drei kru\n, u\n h’u\, pu\ ml^ng mlang yơ\?

(Rượu chúng ta sẽ dâng, lợn chúng ta sẽ cúng để cầu chèo bẻo bồ chao được chăng?).

 

Wai yut wai tê lo\ m`ê mka\n.

(Ve yut ve tê lại đã kêu một mùa mới mà vẫn chưa thấy về.)

- Là những loài chim báo điềm đi đường rất linh của người đồng bào Êđê.

- Tượng trưng cho thần linh.

- Là những giống ve của mùa phát rẫy.

-Báo hiệu cho thời gian đi qua.

 

 

 

Động vật để cúng thần linh

 

 

 

Trâu đực bảy con (Kbao knô kjuh duh) bò bảy con (Êmô kjuh duh), lợn thiến bảy con (u\n krêo kjuh duh).

Anei kơ asei kâo kpiê kjuh kbao knô kjuh duh kơ yang, kpiê kjuh êmô kjuh duh kơ yang, kpiê kjuh u\n krêo kjuh duh kơ yang, pu\ cia\ng kơ pro\ng, hro\ng cia\ng kơ dlông, amâo mâo pô bi mnông, amâo mâo pô bi mdơr.

(Nay vì sức khỏe của ta, ta xin dâng thần rượu bảy ché trâu đực bảy con, rựơu bảy ché bò bảy con, rượu bảy ché lợn thiến bảy con, cầu thần phù hộ cho ta ngày càng mạnh càng lớn không ai bì kịp, không ai sánh tày).

- Là những con vật thường được sử dụng để cúng tế thần linh.

 

 

 

- Biểu trưng cho sức mạnh thần linh.

 

4 

 

Thiên nhiên 

 

Khu rừng hẹn hò (Drai Dhul)

 

Kmro\ng Drai Dhul, Knuôi Y But, Y Tang.

(Cái khu rừng hẹn hò của Y But, Y Tang).

- Là nơi gặp gỡ của đôi trai gái.

- Không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống của đồng bào Êđê.

 

Đầu giếng nước (Pô p^n êa), cây cau đầu làng (ana mnang ko\ “uôn sang).

Ko\ p^n ea mil mơ\ng hmei, ana mnang khua “uôn sang mil mơ\ng hmei.

(Đầu giếng nước là từ chúng tôi, cây cau đầu làng là từ chúng tôi).

- Là dùng để sinh hoạt hằng ngày và thực hiện các nghi lễ cúng bái thần linh.

- Biểu tưởng của người đầu làng.

 

 

 

5 

 

 

 

Tưởng tượng

 

 


 

Bãi thả trâu bò làng Ông Đu, Ông Điê (Truh tơ car kbao “uôn Aê Du Aê Adiê)

Truh tơ car kbao “uôn Aê Du Adiê.

(Chàng cũng đến được bãi thả trâu bò làng Ông Đu Ông Điê).

- Là hình ảnh tưởng tượng, nơi ở của thần linh cũng có cuộc sống như con người.

Bãi thả diều của Ông Đu, Ông Điê (Truh tơ wao klang “uôn Aê Du Aê Adiê).

 

 

Cầu thang (“a\ng đuh).


 

Anei truh tơ car kbao “uôn Aê Du Aê Adiê.

(Đến bãi thả diều làng Ông Đu Ông Điê).

 

Truh tơ sang Hbia Điêt Kluic. Đ^ ê`an dua “a\ng hla\m, kla\m adring dua “a\ng kđuh, kmeh kjuh jơ\ng đing đưng kơ ju\, đing đưng kơ ngo\. Ana\n truh kơ dlông, tiêt he\ kga\, đuê nao tơ ôk.

(Đam Săn đến nhà Hbia Điêt Kluich. Hai lần chồm lên, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần san sân như vỗ cánh, bẩy cột vì cột nhà đung đưa sang đông, đung đưa sang tây. Vào đến trong nhà, gác chà gạc lên rồi, chàng đi thẳng vào trong).

- Gắn liền với không gian sinh hoạt văn hóa của thân linh.

 

-Cầu thang như có sức mạnh như thần linh, có thể đung đua con người. nó như vật để giúp con người.

 

 

 

 

STT 

Sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

 

Đoạn trích

 

Ý nghĩa 

 

 

 

1

 

 

 

Ơ (Ơ) 

 

Ơ Y Ding wơi, ơ Y Ling wơi, ơ Y Lang wơi, êgao êngao “a\ng jang koh anak tuê kđi ka\n mâo! Ơ Y Suh wơi, ơ Y Sah wơi, hriê tơ anei.

(Ơ Y Ding ơi, ơ Y Ling ơi, ơ Y Lang ơi, ở ngoài cổng làng có xử chém kẻ lạ nào đâu! Ơ Y Suh ơi, ơ Y Sah ơi, vào đây nào!).

 

- Một phụ từ đệm, tạo ra cách gọi thân thiết, rất riêng của đồng bào Êđê.

 

 

 

2 

 

 

 

Qúa quắt (Kjham)

 

Amâo djo\ kjham bai ôh, kjham go\. Amâo djo\ kjham amo\ ôh, kjham tluôn. Amâo djo\ kjham “uôn ôh, kjham tuê. (Qúa quắt nào phải cái rễ, quá quắt là cái nồi. Qúa quắt nào phải cái bát, quá quắt là cái chôn. Qúa quắt nào phải người làng, quá quắt là người khách).

 

- Ý nói trách móc ai đó làm điều gì sai trái.

 

 

3 

 

Con mụ nghèo hèn (Kao mse\ “un mse\ “an)

 

Ya di ih hla\p kâo mse\ “un mse\ “an, mse\ êlan hla\m mông mac!

(Sao các con lại giỡn với ta như một con mụ nghèo hèn, khinh ta như khinh bầy kiến đen, kiến đỏ vậy!).

 

- Lời nói khiêm tốn, hạ thấp mình trước đối tượng giao tiếp.

 

 

4 

Thây mẹ chúng mày, L. mẹ chúng mày.

(Đăt am^ `u, liên am^ `u). 

Ai “uôn anei, hla\p kâo mse\ “un “an! Đăt am^ `u, liên am^ `u,”uôn anei. (Gớm thật là cái lũ làng này! Chúng cứ giỡn ta như một con mụ nghèo hèn. Thây mẹ chúng mày! L. mẹ chúng mày cái làng này).

- Lời chửi tục khi đối tượng giao tiếp không trả lời thành thật.

 

5 

 

Vợ viếc gì.

(Ti le\ mô\, ti le\ miên). 

Ti le\ mô\, ti le\ miên? Djiê mtiê kâo, H’~^ ka\n kâo dôk, H’ Bh^ ka\n kâo dôk. (Vợ viếc gì? Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị, cháu cũng không lấy Hơ Bhị).

- Một lối nói tục của người đồng bào Êđê.

 

 

6 

 

Bớ, hỡi (Ơ hđeh), ối(_ơih) chu cha ( _ơih)

Ơ hđeh “uôn anei, ja\k mơ\ ih dla\ng kơ kao? _ơih, jia\ng ah, ih amâo dưi ma\ ôh.

(Bớ (hỡi) bọn trẻ làng xa, xem ta đã đẹp chưa nào? Ối (chu cha) diêng ơi, thôi, diêng không bắt được nó đâu.)

- Những phụ từ đệm, tạo nên giọng điệu bất ngờ.

 

 

7 

Sừng siếc.

(Msan msiên), ngà nghiếc (Mla mla\t)

Msan msiên. Liên am^ ih! Mla mla\t, đa\t am^ ih.

(Sừng siêc gì, cái thây mẹ anh, ngà nghiếc gì, cái l. mẹ anh).

- Một lối nói chửi tục của người đồng bào Êđê.

 

8 

 

_ư (Ồ), _ơih (Ủa)

_ư, wơi b^t he\ pkin ao. _ơih, hlei lei êman adih?

(Ồ, quên mất khố áo rồi. Ủa voi ai kìa?).

-Những phụ từ chỉ sự ngạc nhiên.

 

 

9  

Bậc quyền sang đến nhà con chó này vậy.

(Khua êmua đ^ sang asâo). 

Jap jing cing đ^ pra khua êmua đ^ sang asâo, jua\ sang kâo sa “a\ng dlưh anei.

(Ơ cô nàng, có chuyện gì mà chiêng leo lên nhà bếp, bậc quyền sang lại đến nhà con chó này, bỗng dưng cô nàng lại hạ cố đến nhà tôi lần này vậy).

-Ý trêu ghẹo cô gái.

-Cách nói khiêm tốn, hạ mình thấp hèn như ” con chó”.

 

STT 

Sử dụng ngôn ngữ kịch

 

Đoạn trích

 

Ý nghĩa 

 

 

 

1 

 

 

 

Lấy rượu (Ka\ be\ kpiê).

Ơ hđeh, ka\ be\ kpiê, ti kpiê ma\ kơh, ơ aduôn? Ma\ kpiê ceh gê ti la\n, kpiê ceh ga\n hla\m hjiê, kpiê mơ\ng aê aduôn đưm.

(Ơ các con, hãy đi lấy rượu cột lên. Lấy rượu nào thưa bà? Lấy rượu ché găn trong hầm, lấy rượu ché ghê trên lẫm, những ché rượu ông bà để lại xưa.).

-Lời đối đáp ngắn gọn giữa chủ và tó trong việc lấy rượu để uống mừng.

 

 

 

2 

 

 

 

Này cậu ra ngay nhà khách.

(Nao be\, adei, kơ g’ah). 

Nao be\, adei, kơ g’ah! Tuê bo\ lam, Cam bo\ gah, khua krah sang dôh bi êngi. Ya nga\ `u cia\ng hriê?

(Này cậu, cậu ra ngay nhà khách! Cả nhà đầy khách, phòng khách đầy người Chăm, những người cầm đầu làng đang ngồi xúm xít giữa nhà kia kìa. Họ đến việc gì?).

-Lời nhắc nhở của chị gái dành cho em trai.

 

- Câu trả lời ngắn gọn nhưng chứa đầy đủ nội dung của sự việc: Hỏi ai đến nhà mình nhiều?

 

 

 

3 

Ấy, em! Lại đây với chị! Em đừng làm thế.

(W^t be\, adei ah, đa\m nga\ sơna\n ôh). 

W^t be\, adei ah, đa\m nga\ sơna\n ôh. Ơ ôh, amai ah, kâo amâo cia\ng ôh. Knhông đei yơh ih dê! Jing đei yơh ih dê!

(Ấy em! Lại đây với chị! Em đừng làm thế. Không, không chị ơi, tôi không ưng như vậy đâu. Chị thật là ngang bướng, bướng quá).

-Khuyên răn em mình nghe lời. Nhưng người em trai lại trách móc người chị quá bướng bỉnh, cứ ép nài em tron khi người em phản đối kịch liệt

 

 

4 

Duk ơi, Duk vào đây! Mời Duk ngồi vào chiếu.

(Hriê be\, juh ah. Nao dôh tơ a`uê). 

Dôh tơ anei dưn, juh ah. Ya nga\ gơ\ tuê đeh, uê\`!

(Đứng đây cũng được Duk à. Chúng tôi đâu phải khách mà ngại!).

- Câu trả lời khiêm tốn. Họ y như đang diễn kịch vậy.

 

 

 

 

5 

 

 

 

 

Hai chị e đến nhà Đam Săn.

(Ana\n đue\ nao truh tơ sang Dam Sa\n).

Ana\n đue\ nao truh tơ sang Dam Sa\n. Chia\p êman tơ adring, mting êman tơ ê`an. Cha\r H’~^, cha\r H’Bh^ tơ adring. Sa êtuh êlâo, sa êbâo êdei, sa drei H’~^, H’Bh^ tơ krah. _luôt ana\n dôk tơ kpiêt djuh. H’~^, H’Bh^ “luôt dôk tơ kpiêt djuh mơh.

(Rồi ha chị em đến nhà Đam Săn. Voi áp vào sân, đứng xếp hàng ở cầu thang. Hơ Nhị nhảy xuống. Hơ Bhị nhảy xuống. Một trăm người đi trước, một nghìn người cất bước theo sau, một mình hai chị em Hơ Nhị, Hơ Bhị đi giữa. Bọn tôi tớ len vào đứng ở xó củi. Hơ Nhị và Hơ Bhị cũng le vào đứng vào xó củi).

-Lối nói diễn đạt tự nhiên, diễn tả hành động hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị đến nhà Đam Săn hỏi cưới Đam Săn.

 

 

 

 

 

 

 

6  

 

 

 

 

 

 

 

Cây này là cây smuk.

(Kyâo smu\k yơ\ anei). 

Kyâo smu\k yơ\ anei, kyâo smu\n, phu\n amâo “uh, êdu\k amâo mâo, kyâo thâo mjing H’~^, H’Bh^. Ana\n kyâo smu\k ngo\ sang, kyâo “lang yu\ adring. Kyâo thâo mjing H’~^, H’Bh^. Phu\n hla\m êa, ana hla\m dhông, kyâo k’uh k’ông, ana\n amâo thâo krah. Phu\n sa thu\n dar, adhan sa mlan ktông, hla sa êwa c^m phiơr.

(Cây này là cây smuk, cây smun những gốc cây không thấy, ngọn không có, những cây sinh ra linh hồn Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là cây smuk ở phía đông nhà, là cây blang ở phía tây, những cây sinh ra linh hồn Hơ Nhị, Hơ Bhị đó ông ạ. Đó là những cây gốc trong suối, thân trong thung, bóng rợp cả một vùng, tên gọi gì không rõ. Gốc cây người đi đi phải một năm, cành cây chim chuyền phải một tháng).

- Lời hát ca ngợi vẻ đẹp hào hùng, kỳ vĩ của cây thần (Smu\k), cây thần sinh ra linh hồn Hơ Nhị, Hơ Bhị.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Biểu trưng cho thần linh.

 

 

 

 

 

 

7 

 

 

 

 

 

 

Ôi vợ tôi chết mất rồi.

(Mô\ kâo bru\ mdiê djiê asei). 

 

Mô\ kâo bru\ mdiê djiê asei, yang brei kơ kâo sah pro\ng mdro\ng ana đua kưn kdu\ng. To\ anei, tơ Aê Adiê bi thiê, kâo ma\ hla hlu\p ku\p đang. Si kơh di ih p^p amâo thâo mdih, ơ adei, đih amâo thâo hdơr, p^t wơi êla, ơ adei! Kpiê ceh tuk ceh tang ba amâo tla\p ti gơ\ng, knơ\ng cuh êmô kbao amâo thâo hô bra\, mnuih “ha\ “ha\ dja\ ba u\n tơ mâo sa rô, êmô sa kham, kbao sa êtuh duh kơ di ih. Ơ drao, ơ dru\n, kâo ma\ êsu\n “hur “a\ng knga, ma\ êya “hur “a\ng adu\ng!

(Ôi, vợ tôi chết mất rồi, vợ tôi đã lúa mục cỏ nát mất rồi, người vợ mà thần đã ban cho tôi để tôi nên tù trưởng giàu mạnh đầu đội khăn nhiễu, vai mang nải hoa. Ối em ơi em ngủ quên sao quên thức giấc, em nằm sao quên bừng dậy, ới em ơi, sao em quên cả trời đã hừng đông! Em thấy chăng rượu ché tuk ché tang không lúc nào thiếu ở cột, cọc thui trâu thui bò không bao giờ không có dây, người đến phúng viếng dự tang nườm nượp, đem lợn hàng đàn, bò cả bầy, trâu cả trăm con đến viếng em! Hỡi ngải linh ngải thiêng, đây, tôi lấy ném tôi thổi vào lỗ tai, tôi lấy gừng tôi phun vào lỗ mũi vợ tôi.

 

 

 

 

 

 

-Lời hát, lời tan có tính chất kể lệ, buồn bã, xót thương của Đam Săn dành cho người vợ quá.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thật chứ cháu?

(Êdi deh, cô?). 

Aê Adiê – Duh, cô ah, mô\ ih tui hriê.

(Kìa vợ cháu theo cháu đã đến kia kìa).

Dam Săn – Ti le\ mô\, ti le\ miên? Djiê mtiê kâo, H’~^ ka\n kâo dôk, H’Bh^ ka\n kâo dôk.

(Vợ viếc gì? Có chết cháu cũng không lấy Hơ Nhị, cháu cũng không lấy Hơ Bhị).

Aê Adiê – Êdi deh, cô?

(Thật chứ cháu?).

Dam Sa\n – Êdi mơh, aê ah.

Thật chứ ông).

Anei Aê Adiê ma\ kơ đ^ng ha\t teh ti ko\ Dam Sa\n sa ngeh djiê. Sui “ia\ ti ana\n, lo\ hrih ma\. Leh hrih, ana\n lo\ hd^p.

(Ông trời tức thì lấy ống điếu cốc cho Đam Săn một cốc vào đầu. Lát sau, Ông Trời làm phép cho Đam Săn sống lại).

Aê Adiê –Si nga\, cô? Ih dôk yơ\, cô?

(Nào cháu, cháu lấy chứ?).

Ana\n Aêu Adiê ca\m kjuh blư\ djiê kjuh blư\ hd^p. Tloh kjuh blư\.

(Ông Trời lại cốc đi cốc lại Đam Săn làm chàng chết đi sống lại bảy lần. Hết lần thứ bảy, Ông hỏi :)

Aê Adiê – Ih dôk yơ\, cô?

(Sao, cháu lấy chứ?)

Dam Sa\n – Kâo dôk yơh, aê ah.

(Cháu lấy vậy).

-Cuộc đối thoại ngày càng gay gắt, và sự phát triển mâu thuẫn mỗi lúc một thêm cao trào.

-Trời bắt Đam Săn phải lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị nhưng Đam Săn cương quyết từ chối ý của Trời. Đam Săn không chịu lấy hai chj em Hơ Nhị và Hơ Bhị nên Trời phải đánh Đam Săn chết đi sống lại nhiều lần. Cuối cùng Đam Săn chịu lấy hai chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị.

 

 

 

 

 

 

 

- Thể hiện tinh thần dũng cảm chống lại tập tục nối dây của người anh hùng Đam Săn.

 

(*) Tư liệu trong phần phụ lục gồm ba phần: phần (1) tiếng Êđê, phần (2) dịch nghĩa, phần (3) ý nghĩa của các hình ảnh, nghĩa nghĩa của các câu đối thoại. Nội dung phần Êđê và phần dịch nghĩa được chúng tôi trích lại từ tài liệu của tác giả Nguyễn Hữu Thấu, (2003), Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan, nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội. Còn phần ý nghĩa do chúng tôi tìm ra.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

0 phản hồi

Bạn có thể là người đầu tiên để lại phản hồi.

Viết một phản hồi

 




 

Theo dõi

 
 
Copy Protected by Chetans WP-Copyprotect.