TRƯƠNG THÔNG TUẦN

BIỂU TRƯNG NGHỆ THUẬT TRONG SỬ THI ÊĐÊ

(Khảo sát qua tác phẩm Đăm Kteh Mlan)


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS. Trương Thông Tuần

Người thực hiện: Lý Văn Huấn

Chuyên ngành: Ngữ văn

Lớp: Sư phạm Ngữ văn K2009 Trường ĐH Tây Nguyên

Khóa: 2009 – 2013

 

MỤC LỤC

                            Trang

MỞ ĐẦU    1

1. Lí do chọn đề tài    1

2. Lịch sử nghiên cứu    2

3. Mục đích nghiên cứu    2

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu    2

5. Phương pháp nghiên cứu    2

6. Nhiệm vụ nghiên cứu     3

7. Bố cục khóa luận    3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN    4

1.1. Khái niệm biểu trưng    4

1.2. Biểu trưng trong cuộc sống     4

1.3. Biểu trưng trong nghệ thuật và tác phẩm văn học    5

1.3.1. Biểu trưng trong nghệ thuật    5

1.3.2. Biểu trưng trong tác phẩm văn học    7

1.4. Đặc điểm của biểu trưng     8

1.5. Tiểu kết    9

Chương 2 BIỂU TRƯNG NGHỆ THUẬT TRONG ĐĂM KTEH

MLAN    11

2.1. Khái quát về tác phẩm Đăm Kteh Mlan    11

2.1.1. Giá trị nội dung và nghệ thuật    11

2.1.2. Môi trường và hình thức diễn xướng sử thi    13

2.2. Các biểu trưng nghệ thuật trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan    14

2.2.1. Sự phong phú đa dạng biểu trưng nghệ thuật    14

2.2.2. Phân loại biểu trưng nghệ thuật    17

2.2.2.1. Biểu trưng là các hình ảnh, sự vật sự việc có trong tự nhiên     17

2.2.2.2. Biểu trưng là các hình ảnh tưởng tượng    28

2.2.3. Hình ảnh biểu trưng nghệ thuật có sự kết hợp giữa các con số

ước lệ với hình ảnh cụ thể     33

2.3. Ý nghĩa và giá trị của của các biểu trưng nghệ thuật     35

2.3.1. Biểu trưng nghệ thuật góp phần thể hiện hiện thực     35

2.3.2. Biểu trưng nghệ thuật góp phần thể hiện đời sống tinh thần    36

 

 

 

2.4. Sự tương đồng và khác biệt về ý nghĩa biểu trưng giữa Đăm Kteh

Mlan và các loại hình nghệ thuật ngôn từ khác    37

2.4.1. Sự tương đồng    37

2.4.2. Sự khác biệt    38

2.5. Tiểu kết    39

KẾT LUẬN    40

Chú thích    41

Tài liệu tham khảo    42

 

MỞ ĐẦU

 

1. Lý do chọn đề tài

Sử thi Êđê có giá trị về nhiều mặt, riêng giá trị về văn học và ngôn ngữ thì cũng có nhiều nhà nghiên cứu đã bàn đến. Tuy nhiên, giá trị về mặt quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa qua tác phẩm văn học Đăm Kteh Mlan thì chưa có tài liệu, chuyên khảo nào đề cập.

Việc nghiên cứu, tìm hiểu biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Êđê, thực chất là vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ, văn học và văn hóa là một vấn đề cần thiết để góp phần làm sáng tỏ các giá trị văn hóa dân tộc.

Tìm hiểu biểu trưng của sử thi Êđê qua khảo sát tác phẩm Đăm Kteh Mlan sẽ góp phần tìm ra một số giá trị biểu trưng trong đời sống tinh thần của người Êđê.

Với những lý do trên, tôi tìm hiểu đề tài: Biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Êđê (Khảo sát qua tác phẩm Đăm Kteh Mlan).

2. Lịch sử nghiên cứu

Theo tài liệu [2; tr.27] của tác giả Nguyễn Hữu Đức thì vào tháng 5 năm 1927, sử thi Êđê chính thức được nhà nghiên cứu Léopol Sabatier sưu tập, chú thích dịch một cách khoa học và tương đối đầy đủ. Sách có nhan đề ”Bài ca Đăm san, truyền thuyết của người Êđê thế kỷ XVI”, do toàn quyền P. Pasquier và nhà văn Roland Dorgelé viết lời tựa. Đến năm 1952 ”Sử thi Đăm Di” được Dominique Antomarchi sưu tầm, cho đến năm 1955 Greorgé Condeminas công bố và viết giới thiệu. Năm 1959 ”Sử thi Đăm San” được giới thiệu bằng Tiếng Việt do Đào Tử Chí sưu tầm và dịch. Năm 1963 Y Điêng và Ngọc Anh công bố ”Trường ca Tây Nguyên” với các sử thi ”Xinh nhã”, ”Đăm Di”, ”Đăm Đơaran”, ”Yprao”, ”Kinh Dú”, vv…Nhưng chủ yếu các học giả nhà nghiên cứu tìm hiểu về mặt nội dung phản ánh mà ít đề cập đến mặt ngôn ngữ cấu thành tác phẩm.

Cho đến nay cũng có một số công trình nghiên cứu về tính biểu trưng nghệ thuật văn thơ Việt Nam cũng như trong sử thi nhưng vẫn chỉ dừng lại ở các vấn đề nhỏ chưa có hệ thống.

Đề cập đến tính biểu trưng trong ngôn ngữ và nghệ thuật có những nhà nghiên cứu:

GS. TS Trần Ngọc Thêm có bài viết ”Tính biểu trưng trong văn hóa – ngôn ngữ Việt ”
[9; tr.141], tác giả đã đưa ra khái niệm cũng như lí giải biểu trưng trong ngôn ngữ văn hóa Việt. Hay qua bài viết
”Tính
biểu trưng của nghệ thuật thanh sắc – hình khối Việt Nam”
[9; tr.153], ông cũng đã đề cập đến những nét biểu trưng trong nghệ thuật múa tạo hình và nghệ thuật hội họa điêu khắc.

Hà Duy Bắc đưa ra một cách có hệ thống và làm sáng tỏ về tính biểu trưng thể hiện trong thơ ca Việt Nam 1945 – 1975 [1; tr.50].

ThS. Nguyễn Thị Minh Thu ”Chi tiết đặc tả trong Sử thi – Khan”, tác giả đã đưa ra được một số chi tiết tín hiệu nghệ thuật trong sử thi, đồng thời khái quát lên được chi tiết đặc tả có thể hiểu là những chi tiết nghệ thuật đặc biệt, những tín hiệu nghệ thuật dùng để miêu tả một đặc điểm, một bộ phận tiêu biểu của một nhân vật mà thông qua đó thấy được bản chất hay tính cách của nhân vật ấy. Cụ thể hóa như:
chi tiết đặc tả thể hiện vẻ đẹp hình thức, sự giàu sang và sức mạnh thể chất, trang phục, vũ khí, âm thanh.

Nguyễn Văn Hậu đưa ra lý luận ”Tính hình tượng

tính biểu tượng” trong tác phẩm văn hóa – nghệ thuật, tác giả đã đưa ra khái niệm tính hình tượng và biểu tượng trong văn hóa và văn học và tìm ra mối tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng mà chưa đề cập đến tính biểu trưng thể hiện thông qua tính hình tượng và biểu tượng trong văn học.

TS. Trương Thông Tuần với bài viết ”Đặc điểm sử dụng hình ảnh trong sử thi Êđê”, tác giả đã đưa ra được tính biểu trưng hình ảnh là những con số gắn với các hình ảnh tạo nên tính độc đáo trong tác phẩm.
Hay qua bài viết ”Đặc tính biểu trưng trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Êđê ”, tác giả cũng đã khẳng định văn hóa dân gian Êđê thường dùng các con số lẻ biểu trưng và các từ chỉ số lượng ước lệ, cùng với đó là văn hoá dân gian Êđê thường dùng các hình ảnh, hình tượng có tính biểu trưng. Với bài viết ”Hình ảnh biểu trưng về người phạm tội trong luật tục Êđê”, tác giả đã đưa ra đó còn là hình ảnh biểu trưng: bằng các loài thú vật, đồ vật, cây cối và hoa quả, thiên nhiên.

Tuy nhiên, các bài viết đề tài trên chưa có hệ thống và nghiên cứu chưa thật sự sâu sắc và toàn diện về biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Êđê, mà chỉ phần nào đề cập đến một số nét, một số góc độ có liên quan trong phạm vi hẹp, chưa khảo sát đầy đủ sử thi Êđê. Biểu trưng nghệ thuật ngôn ngữ trong sử thi Êđê là đề tài mới sẽ góp phần phản ánh đầy đủ, toàn diện sẽ làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới trong sử thi Êđê

3. Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu biểu trưng nghệ thuật trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan nhằm khẳng định giá trị biểu trưng nghệ thuật trong đời sống tinh thần của người Êđê

- Nội dung nghiên cứu còn giúp cho người đọc thấy được mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn học và văn hóa dân tộc và có cách nhìn biện chứng về các giá trị văn hóa của người Êđê.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Đăm Kteh Mlan của người Êđê.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát tác phẩm Đăm Kteh Mlan, Nxb Khoa học xã hội (2009).

5. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tiến hành với các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- So sánh đối chiếu: Nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa các hình ảnh biểu trưng và ý nghĩa của nó trong sử thi Êđê với cách nói của các dân tộc khác.

- Phân tích – tổng hợp: Trên cơ sở các dữ liệu của tác phẩm đi đến phân tích và rút ra những luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ nội dung biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Êđê.

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu làm sáng tỏ các giá trị biểu trưng nghệ thuật trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan.

7. Bố cục luận văn

Khóa luận có 42 trang: Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Biểu trưng nghệ thuật trong sử thi Êđê

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

 

1.1. Khái niệm về biểu trưng

Các dân tộc phương Đông nói chung, cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói riêng sống chủ yếu bằng nghề nông với việc trồng lúa là chính, đây là nghề mà con người phải phụ thuộc cùng lúc nhiều yếu tố khác nhau như: trời, đất, nắng, mưa, vv… đó chính là đầu mối của lối tư duy tổng hợp. Tư duy tổng hợp thì thường là sự tưởng tượng các yếu tố riêng rẽ nào đó làm thành một chỉnh thể, đây chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tính biểu trưng trong nền văn hóa của các dân tộc phương Đông, gốc nông nghiệp.

Theo từ điển văn học Việt Nam thì tính biểu trưng là biểu hiện một cách tưởng tượng và tiêu biểu nhất, chẳng hạn như: hình ảnh con rồng là biểu trưng cho một tín ngưỡng những biểu tượng của nghệ thuật thời nguyên thủy.

Theo từ điển tiếng việt ngôn ngữ Việt Nam, tính biểu trưng thể hiện ở xu hướng khái quát, công thức (ước lệ) hóa với những cấu trúc hài hòa.

Theo giáo trình lí luận văn học tính biểu trưng được hiểu đó là hình tượng từ ngữ có tính chất tĩnh tại, cố định, thường xuyên như là kí hiệu một hiện tượng đời sống.

GS TS Trần Ngọc Thêm cho rằng tính biểu trưng trong ngôn từ chính là cách nói có xu hướng khái quát hóa, công thức với những cấu trúc cân đối, hòa hòa [8; tr.141]. Điều này thể hiện rất rõ thông qua cách diễn đạt, loại hình, hình thức qua các tác phẩm.

GS Trần Quốc Vượng cho rằng từ kiểu tư duy trái ngược nhau xuất phát từ nghề nông nghiệp lúa nước sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều không chỉ phụ thuộc vào một hiện tượng riêng lẻ nào, mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, mưa vv…đó chính là mối tư duy tổng hợp tạo nên biểu trưng trong ngôn ngữ [16; tr.21].

1.2. Biểu trưng trong cuộc sống

Con người trong cuộc sống thường giao tiếp với nhau chủ yếu thông qua ngôn ngữ (hay còn gọi lời ăn tiếng nói), việc giao tiếp đó không dừng lại ở việc thể hiện chức năng trao đổi thông tin, đó còn là văn hóa ứng xử từ đó trở thành thói quen truyền thống của một vùng một dân tộc cụ thể nhất định. Văn hóa giao tiếp trong môi trường tự nhiên kết hợp sự sáng tạo của con người, đã làm cho cuộc sống con người ngày một tốt đẹp hơn, chẳng hạn như: các lễ hội, ẩm thực, trang phục, vv…Hằng ngày có những sự vật, sự việc trong tự nhiên được con người thông qua tư duy đã khái quát lên trở thành biểu trưng chung cho cộng đồng, như hình ảnh: hoa sen, giếng nước đình làng, vv… trong cuộc sống Việt. Những hình ảnh, sự vật, sự việc quen thuộc trên đã trở thành hình tượng biểu trưng chung cho một cộng đồng.

Ví dụ: hình ảnh hoa sen thì ai cũng hiểu ngay đó là đất nước con người Việt Nam, hình ảnh bến nước thì lại là biểu trưng cho cộng đồng dân tộc người Êđê, hình ảnh đôi đũa hình tượng biểu trưng cho nền văn minh lúa nước phương Đông, vv…

Ngay cách nói chuyện chúng ta thường bắt gặp rất nhiều hình ảnh được sử dụng nhằm để chỉ một thuộc tính khái quát nào đó trong tự nhiên, chẳng hạn: dùng các tên để chỉ các địa danh như người ta hay dùng: Xứ sở sương mù thì ta biết ngay dùng để chỉ nước Anh, holiwold (1)
thì mọi người biết ngay đó là nền điện ảnh lớn thế giới ở nước Mỹ, còn hoa anh đào đó là hình ảnh biểu trưng cho đất nước Nhật Bản, vv…cũng có thể xuất hiện trong nghệ thuật như: chỉ người xấu xí về hình thức như Thị Nở, uống rượu như Chí Phèo, cà phê Buôn Mê thuột, phố cổ Hội An, vv…

Hình ảnh biểu trưng trong cuộc sống thường rất phong phú và đa dạng có những hình ảnh mang biểu trưng có tính lịch sử như: hình ảnh con rồng, chùa chiền, lăng tẩm , vv …có ý nghĩa tượng trưng cho một thời đại, một giai đoạn lịch sử…ngoài ra còn những hình ảnh mới được hình thành đã trở thành có nét tiểu biểu cho nền văn hóa như: cà phê, cao su tiêu biểu chỉ có ở vùng đất Tây Nguyên, khi nói đến vùng sông nước không thể không nhắc đến các tỉnh miền Tây Việt Nam. Ngay trong thời trang thì nhà sản xuất cũng phải lựa chọn cho mình các hình ảnh mang tính biểu trưng cho một nhãn hiệu riêng như: fashion, adidas (2)hay logo các thành phố của Việt Nam, biểu tượng thành phố Hà Nội khác biểu tượng thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác trong cả nước.

Biểu trưng đã trở thành thuộc tính quen thuộc với mỗi cộng đồng cùng tồn tại trên trái đất, tuy rằng mỗi một cộng đồng mang những biểu trưng khác nhau, từ đó tạo ra sự phong phú, đa dạng mà không hề tạo ra sự khác biệt mâu thuẫn lẫn nhau giữa các biểu trưng giữa các dân tộc.

Thói quen phong tục tập quán mỗi một dân tộc thông qua ngôn ngữ dân tộc, cũng là yếu tố cơ bản cần có để hình thành nên tính biểu trưng. Tuy vậy, nét văn hóa dân tộc đó để trở thành biểu trưng nó phải được con người nhìn nhận thông qua quá trình nhận thức thừa nhận, hơn thế nó phải đại diện cho các thuộc tính mà họ muốn thông tin chung, chẳng hạn như: con rồng được kết hợp từ các bộ phận khác nhau con rắn, con hổ, con kì lân, con cá. Điểm độc đáo là đặc tính của con rồng phương Đông có sự khác biệt so với con rồng phương Tây. Sở dĩ có điều này là do nền văn minh của mỗi một cộng đồng khác nhau nên đã tạo ra những biểu trưng riêng khác nhau dù chỉ cùng một đối tượng.

1.3. Biểu trưng trong nghệ thuật và tác phẩm văn học

1.3.1. Biểu trưng trong nghệ thuật

Cuộc sống và nghệ thuật là hai yếu tố có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời nhau, cuộc sống chính là mảnh đất là chất liệu, môi trường cho các ngành nghệ thuật hình thành và phát triển, có những sự vật, sự việc vốn quen thuộc trong cuộc sống khi đi vào các tác phẩm nghệ thuật như: âm nhạc, hội họa, điêu khắc, văn học, điện ảnh, vv… biểu trưng chính là những nét, khối hình cho hiện thực, hình ảnh khái quát chung, chẳng hạn thường bắt gặp hình ảnh: hoa sen, cây đa, bến đò, đình làng, vv…vốn quen thuộc với con người Việt Nam khi đi vào các tác phẩm văn học hay trong tâm tưởng văn hóa mỗi người, các hình ảnh đó lại trở thành biểu trưng chung cho một nền văn hóa nông thôn làng quê Việt Nam.

Đặc trưng văn hóa đó có được là nhờ lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố, lối sống ổn định có quan hệ tốt với hết thảy mọi người dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa trong ngôn từ. Đều này được biểu hiện rất sinh động thông qua lời ăn tiếng nói hằng ngày cũng như trong giao tiếp giữa con người với nhau hay là việc dùng các sự vật, một nét thuộc tính tiêu biểu đại diện cho một tổng thể. Chẳng hạn như cách nói của người Việt với nhau về một vấn đề thường hay dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, khi nói về một trạng thái không hứng thú khi nghe một câu truyện thì thường dùng câu nhạt như nước ốc, hay một sự bức xúc tức nước vỡ bờ hay chỉ sự khiêm nhường trong lời giao tiếp: tài mọn, nói về khoảng cách dùng cách; con sông, dãy núi, từ bắc
chí nam, vv

Giống như trong nghệ thuật ngôn từ tính biểu trưng còn được thể hiện trong nghệ thuật thanh sắc đó là nguyên lý đối xứng, hài hòa, ở đây ta hiểu rằng nghệ thuật thanh sắc là thuật ngữ dùng để chỉ những loại hình nghệ thuật có liên quan mật thiết với nhau mà phương tây gọi là ca, múa, nhạc, kịch. Thể hiện rất rõ qua âm nhạc cổ truyền Việt Nam không có loại nhịp lẻ mà chỉ có loại nhịp chẵn (2, 4 phách) từng ô nhạc cũng chia thành các ô chẵn (2, 4, 6, 8, 16, 64…) một cách cân đối, hay như nghệ thuật múa Việt Nam cũng tuân thủ luật âm dương rất chặt chẽ, đội hình múa phổ biến là các đội hình, hình tròn và vuông, còn xét về quan niệm cái đẹp của nghệ thuật múa thì múa tuồng, chèo lại được xây dựng trên cơ sở những mối tương quan cặp đôi giữa các bộ phận của cơ thể, các phần của động tác.

Biểu trưng ngôn ngữ trong nghệ thuật còn được thực hiện bằng thủ pháp ước lệ, nghĩa là chỉ dùng một bộ phận, một chi tiết, để gợi cho người xem nghĩ đến, hình dung ra được sự thực ngoài đời như thế nào. Trong âm nhạc cổ truyền Việt Nam chỉ cần một bộ trống với vài ba nhạc công (nhị, sáo, đàn…) là đã có thể tạo nên mọi âm thanh của cuộc sống, khác với phương tây phải dùng tới cả một dàn hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng. Hay trên sân khấu Việt Nam người diễn viên chỉ cần một động tác chụm tay đưa lên miệng làm điệu bộ uống rượu là đã lập tức gợi lên cho người xem cảnh ăn uống, tiệc tùng và bằng những động tác ước lệ với một cái roi diễn viên có thể cho người xem hình dung dễ dàng cảnh cưỡi ngựa, với một mái chèo để hình dung ra cảnh đi thuyền, với một vòng tròn trên sân khấu để hình dung cảnh vượt hàng trăm dặm đường xa, vv…

Trong các ngành nghệ thuật tính biểu trưng còn thể hiện ở thủ pháp mô phỏng hóa chẳng hạn như trong tuồng (hát bội) các nhân vật được phân thành các loại gọi là đào, kép, lão, mụ, vua, quan, tướng, soái, vv…trong hội họa tính mô phỏng thể hiện thông qua các mô hình thu nhỏ của những vật có trong tự nhiên lẫn trong tâm tưởng như: bức vẽ của một khuôn mặt mà ta hình dung ra một con người, một bức tường ta hình dung ra một căn nhà hoàn chỉnh, một cánh chim hình dung một bầu trời…

Như vậy nghệ thuật sân khấu Việt Nam truyền thống tả thần khác với nghệ thuật phương tây là tả thực như nhà nghệ thuật học Aristote đã định nghĩa ”Là sự bắt trước một hành động trọn vẹn và hoàn chỉnh” cùng với việc thông qua những biểu tượng có tính biểu trưng nhằm diễn đạt nội dung một cách đầy đủ nhất. Để thấy rằng giá trị biểu trưng luôn hiện diện qua nhiều phương tiện, cách thức khác nhau nhưng vẫn tạo ra được những giá trị biểu đạt và cũng là cách tiếp cận đối với giá trị nền văn hóa hay là tác phẩm nghệ thuật.

1.3.2. Biểu trưng trong tác phẩm văn học

Các nhà văn hóa lớn đều cho rằng công cụ của giao tiếp chính là ngôn ngữ bởi ngôn ngữ chính là ”linh hồn của một dân tộc” nhìn vào Tiếng Việt có thể thấy ngôn ngữ phản ánh được linh hồn, tính cách của con người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam.

Văn học là sản phẩm kết tinh từ nền văn hóa của một dân tộc cộng với tài năng sáng tạo thiên tài của các nghệ sĩ, muốn trở thành một tác phẩm văn học thì yếu tố không thể thiếu đó chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện cấu thành mà nó còn là công cụ diễn đạt nội dung và các giá trị trong tác phẩm văn học một cách thành công nhất. Vì thế trong nghệ thuật ngôn từ Việt Nam chứa đựng yếu tố biểu trưng rất đậm nét thể hiện ở xu hướng khái quát hóa, công thức (ước lệ) hóa với những cấu trúc cân đối hài hòa. Xu hướng ước lệ bộc lộ ở chỗ tiếng Việt thích diễn đạt bằng các con số biểu trưng bởi người việt nam chịu ảnh hưởng của triết lí âm dương trong nền văn hóa nông nghiệp lúa nước theo cách tư duy số lẻ, điều này thể hiện rất rõ nét trong lời ăn tiếng nói, thành ngữ, tục ngữ, thơ văn người Việt. Trong khi người châu Âu nói de toutes parts (từ tất cả ở phía trước), he opens his eyes (nó mở những con mắt của nó) thì người Việt Nam nói từ ba bề bốn bên, từ khắp bốn phương trời: nó mở to đôi mắt, hay người Việt Nam dùng các từ chỉ số lượng đi vào trong văn học: ba thu, ba mặt một nhời, năm bè bảy mối, yêu nhau tam tứ núi cũng chèo, vv

Một trong những đặc trưng văn hóa người Việt Nam là lối tư duy tổng hợp chính từ lối tư duy này đã dẫn đến xu hướng trọng sự cân đối hài hòa một biểu hiện rất cụ thể của tính biểu trưng. Theo nguyên lý cấu trúc của loại hình tiếng việt có cấu trúc song tiết là chủ đạo, sở dĩ có được điều này là do tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết, song nó lại chứa đựng không nhỏ các từ song tiết và từ các từ đơn tiết lại hầu hết có thể có những biến thể song tiết, dạng láy tạo ra cấu trúc song tiết. Cho nên các thành ngữ, tục ngữ tiếng Việt điều cấu tạo với cấu trúc có hai vế đối ứng như: trèo cao/ ngã đau: ăn vóc/ học hay: một quả dâu da /bằng ba chén thuốc: biết thì thưa thốt/ không biết thì dựa cột mà nghe, vv…

Lối tư duy tổng hợp mọi yếu tố tạo ra xu hướng trọng sự cân xứng nhịp nhàng để biểu đạt tâm lý tình cảm. Tất cả những đặc trưng đó biểu hiện rất rõ trong thơ ca Việt Nam, so sánh Kim vân kiều truyện (văn xuôi) của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Hoa) với Truyện kiều (thơ) của Nguyễn Du ta thấy rõ những đoạn đối lập này từ những đoạn tả sự kiện, hành động trong Kim vân kiều truyện dài bao nhiêu thì trong truyện kiều ngắn ngọn, đơn giản bấy nhiêu: với những đoạn miêu tả tâm lí, tình cảm thì diễn tả tình hình ngược lại.

Trong văn xuôi Việt Nam cũng bắt nguồn từ thế mạnh tiếng Việt là một ngôn ngữ giàu thanh điệu đã tạo nên tính nhạc cho câu văn, từ những bài văn xuôi viết theo lối bền ngẫu như ”Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, ”Thư dụ hàng” của Nguyễn Trãi gửi địch, cho tới những lời văn nôm bình dân, vv…Khắp nơi điều gặp một lối cấu trúc cân đối, nhịp nhàng, chặt chẽ và có tiết tấu vần điệu. Ngay cả trong thể loại tiểu thuyết xuất hiện sau này do ảnh hưởng của văn xuôi phương tây cũng mang dấu ấn của truyền thống cân đối nhịp nhàng, biểu trưng ước lệ. Trong thơ Tản Đà có những câu văn miêu tả ”Tiếng nói nhẹ bao nhiêu, dáng người mềm bấy nhiêu: mềm bao nhiêu, chín bấy nhiêu: chín bao nhiêu, tươi bấy nhiêu: tươi bao nhiêu, tình bấy nhiêu”. Không chỉ tiểu thuyết mà ngay cả văn chính luận Việt Nam cũng mang đầy chất thơ nhờ sự cấu tạo cân đối nhịp nhàng đọc Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, hay những câu văn ta thấy rõ chất thơ đó: ”Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng. Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường; Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh”.

Ngay trong lười ăn tiếng nói hằng ngày từ lời đối đáp đến việc chửi tục nhau, người Việt Nam cũng chửi nhau một cách có bài bản, cân đối nhịp nhàng, đầy chất thơ (không chỉ lời chửi, mà cả cách thức chửi, dáng điệu chửi, vv… cũng mang tính nhịp điệu, với lối chửi có vần điệu, có cấu trúc chặt chẽ có thể chửi từ ngày này qua ngày khác mà không hề nhàm chán, đó là một nghệ thuật độc nhất vô nhị.

Như vậy trong văn học nghệ thuật Việt Nam thì tính biểu trưng đóng vai trò quan trọng đến việc hình thành những đặc trưng riêng cho nền văn hóa văn học, đó cũng chính là tiếng nói riêng của một nền văn hóa trong cộng đồng văn hóa, văn học nhân loại.

1.4. Đặc điểm của biểu trưng

Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu về biểu trưng trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật có thể nhận thấy rằng biểu trưng có những đặc điểm sau:

- Trước tiên biểu trưng là những hình ảnh bắt nguồn từ hình ảnh, sự vật, sự việc, hiện tượng cụ thể trong thực tế và được lặp đi lặp lại nhiều lần, ví dụ như: hình ảnh cây xà nu biểu trưng cho cộng đồng người Êđê, hình ảnh cây tre biểu trưng cho dân tộc Việt Nam, vv…Sở dĩ có điều này là vì những hình ảnh biểu trưng thường có chức năng khái quát tiêu biểu cho cộng đồng dân tộc. Từ những hình ảnh đó qua quá trình tư duy tổng hợp của con người đã trở thành hình ảnh đại diện có ý nghĩa biểu trưng. Ví dụ như hình ảnh cây tre Việt Nam có những đặc điểm như: sức sống bền bỉ, sống ở mọi đất khô cằn, luôn vươn thẳng, vv…giống như con người Việt Nam với những tính cách chịu thương chịu khó, cần cù, siêng năng, vv…

- Đặc điểm nữa của tính biểu trưng chính là những hình ảnh, sự vật, sự việc, hiện tượng không chỉ có trong ngôn ngữ và nghệ thuật mà còn có trong cuộc sống hằng ngày, ta có thể bắt gặp những biểu trưng tiêu biểu xuất hiện trong lời ăn tiếng nói cuộc sống hằng ngày như: Trong cách chửi nhau của người Việt, người Việt Nam có lối chửi nhau rất đặc biệt chửi theo vần điệu, hài hòa mà rất hiệu quả tác động đến đối phương. Đây là lời chửi của một người đàn bà mất gà được ghi lại trong tiểu thuyết ”Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan như sau:

”Làng trên xóm dưới, bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghe ổ, nó lạc ban sang, mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi” [8; tr.143].

- Tính biểu trưng mang những đặc điểm gần gũi với các hình ảnh, sự vật, hiện tượng như trong tính hình tượng, tưởng tượng, tượng trưng, tuy nhiên ý nghĩa của biểu trưng có ý nghĩa cao hơn, tiêu biểu hơn, phổ quát hơn. Chẳng hạn trong tác phẩm ”Rừng xà nu” của nhà văn Nguyễn Trung Thành hình ảnh Cụ Mết là một hình tượng tiêu biểu cho con người đứng đầu buôn làng với những phẩm chất như: dũng cảm, kiên cường, mẫu mực cho thế hệ trẻ noi theo, vv…Vì vậy cao hơn bước nữa là hình ảnh Cụ Mết đã trở thành hình ảnh biểu trưng cho dân tộc Tây Nguyên anh hùng, là hình ảnh đại diện cho cả dân tộc. Trong trường ca ”Đăm Săn” thì hình tượng người anh hùng Đăm Săn ngoài những phẩm chất anh hùng như: dũng cảm, có sức mạnh phi thường, ý chí chinh phục thiên nhiên, vv…ngoài những đăc điểm của tính hình tượng đó hình ảnh Đăm Săn còn mang đặc điểm biểu trưng cho cộng đồng dân tộc Êđê.

Tóm lại biểu trưng nghệ thuật chính là những hình ảnh mang ý nghĩa tả thực cộng thêm vào đó là các ý nghĩa mới vượt ra khỏi ý nghĩa tả thực ban đầu, đồng thời được cộng đồng xã hội thừa nhận, khác với hình tượng là ngoài nghĩa tả thực ban đầu được thêm vào đó những hình ảnh tiêu biểu điển hình trong nghệ thuật mà ít liên quan đến ý nghĩa giá trị văn hóa như các hình ảnh mang tính biểu trưng.

1.5. Tiểu kết

Biểu trưng nghệ thuật ngôn ngữ chính là những đặc điểm sự vật, hiện tượng có tính lặp đi lặp lại, trở thành thói quen sử dụng, nhằm đem lại hiệu quả về mặt ý nghĩa trong cuộc sống và trong văn học nghệ thuật. Biểu trưng phản ánh dưới nhiều cấp độ khác nhau, có thể là những hình ảnh đơn giản nhất từ cuộc sống cho đến những hình ảnh do con người tưởng tượng ra nhằm biểu đạt giá trị đại diện cho cộng đồng. Như vậy con người thông qua quá trình tư duy sử dụng ngôn ngữ đã phát triển vận dụng sáng tạo tạo ra nhiều hình ảnh, từ những hình ảnh đó giúp con người hiểu hơn về thiên nhiên cuộc sống và con người. Nghệ thuật luôn rất phong phú và đa dạng nhưng qua cách nhìn của biểu trưng thì có những hình ảnh đã có tính khái quát cao hơn, hài hòa, dễ dàng tiếp cận hơn, vv…để từ đó có thể đi sâu tìm ra những mặt giá trị đặc sắc ẩn chứa trong đời sống và nghệ thuật.

Như vậy, giá trị biểu trưng ngôn ngữ đã làm sáng tỏ thêm nhiều mặt giá trị nội dung các tác phẩm nghệ thuật, về mặt lý luận các loại hình nghệ thuật dân tộc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 2

 

BIỂU TRƯNG NGHỆ THUẬT TRONG ĐĂM KTEH MLAN

 

2.1. Khái quát về tác phẩm Đăm Kteh Mlan

2.1.1. Giá trị nội dung và nghệ thuật

Sử thi là thuật ngữ mà ở Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản) giới khoa học dùng để dịch một thuật ngữ Tây phương (tiếng Pháp: espopee, tiếng Anh: epic, tiếng Hy Lạp: epopoia) nhà triết học Arixtot (thế kỷ IV – TCN) là người đầu tiên dùng thuật ngữ epopoiia (Epopoie = kể truyện tự sự) dùng để chỉ Iliat và Ôđiê, sử thi được hình thành và phát triển trên nền tảng văn hóa, văn nghệ dân gian từ thời sơ sử và thời cổ đại, trước tiên là trên nền tảng thần thoại tương ứng với quá trình kết hợp các bộ lại để trở thành liên minh bộ lạc trong cộng đồng dân tộc.

Sử thi Êđê chính thức được các nhà nghiên cứu từ tháng 5 năm 1927 đầu tiên do léopol Sabatier sưu tập, chú thích dịch một cách khoa học và tương đối đầy đủ. Sách có nhan đề ”Bài ca Đăm san, truyền thuyết của người Êđê thế kỷ XVI”, do toàn quyền P. Pasquier và nhà văn Roland Dorgelé viết lời tựa. Đến năm 1952 ”Sử thi Đăm Di” được Dominique Antomarchi sưu tầm, cho đến năm 1955 Greorgé Condeminas công bố và viết giới thiệu. Năm 1959 ”Sử thi Đăm San” được giới thiệu bằng Tiếng Việt do Đào Tử Chí sưu tầm và dịch. Năm 1963 Y Điêng và Ngọc Anh công bố ”Trường ca Tây Nguyên” với các sử thi ”Xinh Nhã”, ”Đăm Di”, ”Đăm Đơaran”, ”YPrao”, ”KinhDú”…Năm 1981 luận án P.TS Võ Quang Nhơn ”Về sử thi anh hùng của các dân tộc Tây Nguyên ”. Năm 1984 – 1989 Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian kết hợp với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Đăk Lăk tổ chức sưu tầm về văn hóa dân gian Êđê, M’ nông đã sưu tầm được sử thi Êđê (Klei Khan) và M’ nông (Ot Ndong). Năm 1988 Tô Ngọc Thanh giới thiệu ”H Mon Noi” trong sách ”Fônclo Bâhnar”, tác giả đã mở rộng phạm vi nghiên cứu sang vùng Gia Lai – Kon Tum. Năm 1989 luận án tiến sĩ của Phan Đăng Nhật ”Những đặc điểm của sử thi khan ở Việt Nam” lần đầu tiên giới thiệu toàn diện sử thi của dân tộc Êđê ra ở nước ngoài và các nhà khoa học ngoại quốc xác định, từ nay chúng ta ghi vào danh mục các sử thi cổ sơ của thế giới sử thi người Êđê ở Việt Nam. Năm 1992 nhà xuất bản văn hóa dân tộc – Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Đăk Lăk – Chi hội văn nghệ dân gian Đăk Lăk in ”Bài ca chàng Đăm San” (do Y Wang Mlô Duô sưu tầm và dịch) [2; tr.50].

Sử thi Đăm Kteh Mlan kể về câu chuyện tình yêu giữa hai nhân vật đó là chàng Đăm Par Kvây và nàng Hbia Êma, Đăm Par Kvây là một chàng trai khỏe mạnh sống dưới trần gian trong một buôn giàu có, còn nàng Hbia Êma là con gái của trời có vẻ đẹp tuyệt trần. Hai người gặp nhau tại bến nước hò hẹn Y Tang Y Put (3), hai người yêu nhau và nàng Hbia Êma đi cùng Đăm Păk Kvây về sống ở buôn làng. Hai người sinh ra chàng Đăm Kteh Mlan khôi ngô tuấn tú, sức mạnh hơn người, từ nhỏ biết săn bắn hái lượm, làm diều…Còn chị của Hbia Êma là Hbia Kjuh sinh được nàng Hbia Ling Pang cũng rất xinh đẹp lại thích vui chơi, ngang tàng, ngay từ nhỏ nàng cũng đòi đi tắm bến nước của trời nơi hò hẹn. Vào một hôm Đăm Kteh Mlan sau khi làm xong con diều thì đem thả lên bầu trời, tiếng diều làm cho nàng Hbia Ling Pang yêu thích say mê, để gặp được chủ nhân con diều, khi gặp Đăm Kteh Mlan nàng đã dùng ngải để làm mê muội chàng, tiếp đó mà hai người cùng chung sống với nhau mà nàng Hbia Êma không hề cho chàng biết về thân phận thật của nàng. Đăm Kteh Mlan định đưa nàng Hbia Ling Pang về nhà thì nàng mới cho chàng biết hai người họ là anh em cùng chung một gốc, vì tội loạn luân mà hai người chịu sự trừng phạt khủng khiếp, họ bị đuổi đi khỏi buôn làng đến một nơi xa để sinh sống, nhờ hai gia đình xóa tội mà hai người đã xây dựng được buôn làng giàu đẹp, kết thúc tác phẩm chàng Đăm Kteh Mlan đã đến bến nước hẹn hò Y Tang Y Put lập lời nguyền cho những ai mắc phải tội loạn luân.

Sử thi Êđê trong đó có sử thi Đăm Kteh Mlan có sức hấp dẫn mạnh mẽ chứa đựng nhiều giá trị xã hội phong phú và rộng lớn về quá khứ tộc người ở Tây Nguyên. Đó là những cuộc chiến tranh diễn ra quyết liệt, liên miên và dai dẳng giữa các buôn làng. Với âm hưởng chính nổi lên là ngợi ca các nhân vật anh hùng đã chiến thắng các tù trưởng thù địch, bảo vệ cuộc sống thanh bình của cả cộng đồng và bảo vệ hạnh phúc khi bị kẻ thù tranh cướp. Đó còn là các chiến công, cũng không kém phần hào hùng kì vĩ của các nhân vật anh hùng, những chiến công lao động bổ sung cho chiến công chiến trường tạo nên bức tranh trọn vẹn về hoạt động của người anh hùng gắn kết với sức mạnh đoàn kết buôn làng trong cộng đồng. Từ đó tạo nên nội dung hoàn chỉnh, vẻ đẹp hài hòa các bản sử thi. Trong sử thi còn là sự vận động chuyển biến lớn của xã hội, đi từ công xã mẫu hệ, dần dần phát triển lên thành xã hội cộng đồng rộng lớn hơn trên đường tiến lên hình thành dân tộc trong thời đại gia đình dân tộc Việt Nam.

Sử thi Êđê là loại hình thuộc thể loại tự sự dân gian, có tính chất nguyên hợp, trong đó bao gồm cả các yếu tố nghệ thuật ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và cả ngôn ngữ sân khấu. Những yếu tố nghệ thuật trên là một tổng thể kết hợp hài hòa, gắn bó hữu cơ với nhau tạo nên giá trị độc đáo ”không thể nào bắt chước được ” của các bản sử thi, có thể nói rằng nét nổi bật gây ấn tượng sâu sắc, đặc biệt kì thú đối với những đọc giả được tiếp xúc với sử thi anh hùng Tây Nguyên. Chính là cách nói ví von, rất giàu hình ảnh, tràn ngập trong khắp tác phẩm, cùng với đó là cách sử dụng các biện pháp (phóng đại, ngoa dụ, so sánh, vv…) trong ngôn ngữ hình tượng đã tạo sử thi có tính gắn bó hữu cơ với nhau tạo nên một vẻ đẹp riêng, một phong cách riêng của sử thi, đó là phong phú lãng mạn hào hùng đầy sức hấp dẫn của sử thi Tây Nguyên. Cùng với tính hình tượng một điểm quan trọng nữa cũng góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật của sử thi: đó là ngôn ngữ giàu nhạc điệu, đó là cách nói có vần điệu, tạo nên âm hưởng hài hòa và có sự liên kết chặt chẽ với nhau giữa các vế trong cùng một câu. Sự hài hòa trong sử thi không chiụ được thể hiện ở vần điệu tương đối chặt chẽ, mà còn thể hiển ở những vần điệu tương đối chặt chẽ, mà nó còn thể hiện ở kết cấu đối xứng, tạo nên sự hài hòa, nhịp nhàng trong hình tượng. Vẻ đẹp hoàn chỉnh của nghệ thuật của sử thi Tây Nguyên đó là tính kịch trong ngôn ngữ tác phẩm, hầu như các câu truyện của sử thi được trình bày dưới hình thức ngôn ngữ đối thoại giữa các nhân vật. Chẳng hạn mở đầu ”Trường ca Đăm san” (4) là lời đối đáp giữa giữa hai nàng Hơ Bhí và Hơ Nhí với người anh em của mình bàn việc đi cưới Đăm Săn.

Sử thi Êđê trong đó có sử thi Đăm Kteh Mlan đã thu hút cả tri thức và các sáng tạo nghệ thuật ngôn từ của dân tộc từ các lời tục ngữ văn vè ngắn ngọn đến các bài ca nghi lễ cúng thần, từ các bài ca tục lệ trong cộng đồng đến những khúc tình ca nam nữ, chính sự tổng hợp đó tạo nên dáng vẻ nghệ thuật bề bộn phong phú, chứa đựng những nội dung xã hội rộng lớn của một ”Quá khứ không trở lại ”, đó cũng chính là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự bền vững trong việc bảo vệ và lưu truyền sử thi Êđê.

2.1.2. Môi trường và hình thức diễn xướng sử thi

Phương thức diễn xướng của sử thi Đăm Kteh Mlan nói riêng và sử thi Êđê nói chung là kiểu kể truyện xưa, vừa có hát theo lời thơ, vừa có xen kẽ những đoạn nói lối theo lời nói thông thường, vừa có yếu tố nghệ thuật sân khấu, qua việc diễn xướng độc thoại hoặc đối thoại giữa các nhân vật, có kèm theo nghệ thuật diễn tả tình cảm, thông qua nét mặt và điệu bộ của nghệ sĩ diễn kể. Như vậy xét về phương tiện diễn xướng căn cứ theo dạng vốn tồn tại của chúng có thể nói rằng sử thi Êđê là những tác phẩm thuộc loại hình tự sự dân gian, trong đó có sự kết hợp hài hòa một cách tự nhiên các yếu tố nghệ thuật khác nhau: lối nói văn xuôi, nói vần của thơ ca, hát của thanh nhạc và diễn xướng của sân khấu.

Nội dung sử thi phản ánh đã làm nên các giá trị về: lịch sử, văn hóa, văn học, vv… cách thức diễn xướng lưu truyền trong dân gian lại chính là yếu tố quyết định đến sự tồn tại tác phẩm, sử thi Êđê được các nghệ nhân dân gian kể lại, hát lại cho cộng đồng mình nghe về các chiến công, chiến tích lịch sử đầy tự hào của dân tộc.

Trong cuộc sống người nghệ nhân có thể kể từ giờ này qua giờ khác không kể ngày đêm, họ thường kể cho nhau nghe vào các ngày hội quan trọng hay các buổi tối sau một ngày làm việc vất vả quay quần bên bếp lửa để nghe lời hát, lời kể nhịp nhàng nhưng lại rất hùng tráng, vv… đây chính là một nét sinh hoạt truyền thống độc đáo của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.

Nghệ nhân thường là người lớn tuổi trong làng có uy tín, kinh nghiệm từng trải thuộc nhiều sử thi đồng thời cũng là người có giọng nói truyền cảm và có sức khỏe, người nghệ nhân kể truyện với phong cách cường điệu, kì ví hóa diễn đạt theo một kết cấu trùng điệp, với nhiều đoạn mô tả được nhắc đi nhắc lại như: tiếng chiêng, cảnh ăn uống hội hè, cảnh làng mạc đông vui, giàu có, cảnh múa khiên đao, vv… những điệp khúc đó được chất lọc, cô đúc lại thành những mô típ quen thuộc đi vào trong tâm tưởng bám sâu vào trong đời sống tinh thần của người dân Tây nguyên. Người nghệ nhân (5) kể sử thi không chỉ dừng lại ở việc thuyết minh kể lại các tình tiết trong truyện mà người kể đồng thời cùng là người đồng sáng tạo bằng việc tái hiện lại một cách sống động kết hợp lời kể với động tác thân thể như chính nhân vật hay chi tiết thật làm nên tính hấp dẫn đối với người thưởng thức.

Yếu tố không thể thiếu được trong phương thức diễn xướng sử thi của người Êđê, đó là không gian và thời gian diễn xướng sử thi, người nghệ nhân thường kể sử thi trên những ngôi nhà sàn, nhà rông, bên đống lửa rực sáng, hay trong các ngày lễ như các nghi lễ vòng đời người hay lễ cúng thần linh, và cũng có thể kể cho nhau nghe trong những lần đi rừng, những lúc trên nương trên rẫy, vv…Còn thời gian diễn xướng là thời gian phù hợp để diễn ra hoạt động kể sử thi, thời gian đó có thể là ban ngày có thể là lúc tối, từ ngày này qua ngày khác, mỗi một thời điểm người kể sẽ kể một tình tiết truyện phù hợp đảm bảo được tính liên hoàn giữa câu truyện được kể và cuộc sống đang diễn ra xung quanh.

2.2. Các biểu trưng nghệ thuật trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan

2.2.1. Sự phong phú đa dạng biểu trưng nghệ thuật

Sử thi Đăm Kteh Mlan chứa đựng nhiều giá trị biểu trưng nghệ thuật hết sức phong phú, đa dạng, sinh động về đời sống, tư tưởng thẩm mĩ, cùng với cách nói giản dị mà rất độc đáo của cộng đồng người Êđê. Các biểu trưng nghệ thuật biểu hiện trong tác phẩm khá rõ nét dưới nhiều góc độ khác nhau, chẳng hạn như khung cảnh sinh hoạt của cuộc sống hằng ngày được sử thi miêu tả như sau:

”Leh đ^ ngoh đoh puôt, khuôt êa hl^m hian. Kuê ênu\m tơ hjiê, mdiê ênu\m tơ sang, yang “uôn sa hiu duah djam, “^ng êdam hiu sac êa, “^ng êa hiu ma\ djuh, duh “ơ\ng hua\, sa nga\ pưk”.

(Hồn lúa đã lên kho (6), vụ thu hoạch đã kết thúc. Nước mưa cũng đã cạn, kê đã về đủ trên lẫm, lúa đã về đủ nhà. Từ nay dân làng chỉ còn mỗi việc đi kiếm củi hái rau, trai lo xúc tát, gái lo hái lượm giúp vào bữa ăn của gia đình, ngoài ra cũng lo việc sửa sang nhà cửa) [7; tr.127].

Cảnh sắc trong sử thi hiện ra có khi gần khi xa, vừa gần gũi với cuộc sống như: tiếng chim hót, tiếng hổ gầm, tiếng voi kêu, tiếng nước chảy, vv…cao hơn nữa là tiếng chiêng ngân, tiếng người trò chuyện với nhau điều được tái hiện.

Akan hla\m êa kbia\ hmư\ tơ hang, ala hla\m “a\ng kbia\ tơ tac, hda\m mông mac amâo o\k kuai kai, kpaih ring rai hdô cuh mnga. Hđeh êdam êra hdô koh guôl mmông. Êmô hla\m êngao tơl djiê sei, kbao hla\m dliê dôk ư\ tian, aseh êman đup bi kbr^, k^ kơ\ asei, amâo mgei, knga amâo pưh. Hlô hla\m dliê dôk bi ngo\ng, kto\ng hla\m duôr dôk bi knge\, êwa djơ dje\, tian jho\k jhưn, ro\k amâo ktrâo hla\m cư\ kruôn hmư\ hla\m hruh, siap amâo kđuh, jo\ng amâo mngei”.

(Cá trong nước nhảy lên bờ để nghe, rắn trong hang cũng bò ra ngoài để nghe, kiến đen kiến đỏ không còn nghĩ đến cào cào bới bới, cây bông cây đay ngừng nở hoa, con gái con trai quên cả việc phải đi chặt đọt mây bắp chuối. Con bò ngoài bãi, trâu trong rừng thì nhịn ăn đến chết, nhựa voi thì ngơ ngác phục xuống nằm, tai không phe phẩy, da không động đậy. Nai trong rừng, hưu trên đồi điều đứng ngẩn ngơ, cỏ không ăn, nước không uống, thở không nghe tiếng, bụng nhè nhẹ phập phồng. Sáo trong rừng đậu yên trên cành cây, bồ câu trên núi nằm im trong tổ, cánh không dám vỗ, chân không dám cựa. Khỉ trên núi cũng chăm chú lắng nghe, miệng há hốc. Vượn dưới vực ngồi rụt cổ, mồi không tìm bắt, quả không tìm ăn, tai vểnh lên chăm chú nghe không kém)
[7; tr.146].

Con người trong sử thi được miêu tả rất cụ thể gắn thêm cùng các yếu tố trừu tượng, chẳng hạn vẻ đẹp của chàng Đăm Kteh Mlan được miêu tả như là:

Kba\t êkei yang brei sah, k”a\t êkei yang brei mdro\ng. Dla\ng t^ng ro\ng amâo thâo hra\p. Dla\ng ti ana\p amâo thâo trei, asei mlei am^ `u tuh ho\ng đ^ng, hl^ng ho\ng pra\, si thâo ma\ anak ara\ng anei! Dla\ng hla\m jơ\ng tloh tian, dla\ng hla\m kngan tloh êwa, dla\ng “o# mta man “rô kdrua\, trua\ mti\l kư\r Lao kdriel kr^p bi đơr mbah!”.

(Ồ, đây quả là một anh chàng xinh trai thần cho cái sang, nhìn anh phải sau không thấy chán, ngắm anh phía trước không biết no. Con người anh như mẹ đã đúc trong khuôn, như cha đã rót bằng bạc. Làm sao mà lấy được cái anh chàng còn nhà ai đẹp như cái tling tlưng bạc này nhỉ? Ngắm chân anh thấy đứt ruột, nhìn tay anh thấy đứt hơi trông mặt anh gần như cái nắp âu kur (7) đậy vừa kín miệng) [7; tr.148].

Nếu chàng trai trong sử thi là những người tù trưởng hùng mạnh, có sức khoẻ hơn người, thì người phụ nữ lại được miêu tả là những người sánh với vẻ đẹp của thần tiên. Vẻ đẹp của nàng Hbia Êma được ví như:

Ai bi ja\k, ai bi Siam êdimi phung anak ara\ng ana\n. Asei mlei mse\ si tuh ho\ng đ^ng, hl^ng ho\ng pra\, am^ ama di `u “a ho\ng khăn sut khăn drê mnga. {ar m’iêng jih grua ka\ ktia\m, “ar m’iêng tria\m đe#c rup mtu\, ao ju\ `uôm “a\l ê miê, kiê kngan mtih k`i\, ko\ gi\ êa m`ak, anak ja\ kmar kăn mâo pô mse\”.

(Ôi! Con gái nhà ai mà xinh, mà đẹp đến thế này! Người trông như đúc trong ống, như đổ bằng bạc, như mẹ cha ẵm bằng khăn sút, khăn đrê thiêu hoa. Váy toàn viền tua đính cườm, thân váy nhiều tầng hoa văn thiêu hình ngôi sao. Áo thì đen, nhuộm màu êmiê. Chân tay điều trắng trẻ, tóc trải nước thơm. Hay chân trông đáng giá một voi, tay đáng giá một nô lệ: đôi vú thì tròn như những cái bầu đàn brộ: mặt trái xoan, thân hiình mềm mại trông như con cá măng đang lội trong vực sâu. Ngắm cái chân không biết no, ngó cái mình không biết chán)
[7; tr.128].

Sử thi còn được thể hiện độc đáo qua các con số biểu trưng gắn với những hình ảnh cụ thể, sở dĩ có lối diễn đạt này là do người Êđê thường thích dùng cách nói nhấn mạnh sự vật, sự việc được đề cập đến như: bảy cái máng vàng đẹp, bảy nàng Hbia, một đoạn, hai đoạn, một bắp, hai bắp, một nghìn nô lệ, trăng mọc ba đêm, ba ché rượu, bảy con trâu, vv…đó là những cách nói có giá trị nghệ thuật biểu trưng cho từng thời gian, công việc được nói đến nhằm đem lại cảm giác, cuốn hút người giao tiếp mà không hề tạo cảm giác nhàm chán cho người tiếp nhận khi lặp lại trong tác phẩm.

Yếu tố trong thiên nhiên thông qua các hình ảnh tả thực tô điểm thêm cho vẻ đẹp của con người, trong sử thi là những hình ảnh bắt nguồn từ chính cuộc sống hay là hình ảnh được con người khái quát thêm vào đó là các nét ý nghĩa mới có tính nghệ thuật trở thành các hình ảnh tưởng tượng.

Ví dụ trong sử thi để miêu tả vẻ đẹp của khu rừng hẹn hò của Y Tang, Y But bến tắm nhà trời như sau:

Kê` hla\m “a\ng kbia\ “ơ\ng, akan hla\m tơ\ng kbia\ duah, akan kdah hiu bi k”l^p bi k”lir. Hlô hla\m tra\p kbia\ nao tơ hlang, c^m hla\m trang phiơr nao hla\m kyâo, ktrâo ku\t ku tơ kgo\k, adro\k bi êwa “ho\k “ho\k nga\ khua đ^ dlông đa. Kra duah boh bi kmu\` bi kme#`”.

(Sao mà đẹp thế! Cái bến nước của nhà người ta này! Cầu bằng đồng, máng bằng vàng. Các tù trưởng nhà giàu làm sao mà có được một bến nước như vậy. Quả là đẹp thật là cái vùng Đầm Chuối, Thác Mây, cái khu rừng hò hẹn của Y Tang, Y But, cái bến nước của Nhà trời với những tảng đá phẳng lì, với rừng Kơchik êrăng (8) đầy hương thơm ngào ngạt này)
[7; tr.129].

Sử thi bao gồm các hình ảnh những con thú quen thuộc gắn bó với cuộc sống con người như: con voi, con trâu, con sóc, con cá, con gà, con mèo, con chim, vv…được đặc tả theo một cách nói riêng độc đáo chẳng hạn: con mèo đẻ non trong rừng Y tang Y But, con ngựa cụt đuôi, con voi cụp ngà, vv…có khi hiện lên trong toàn bộ sử thi lại là hình ảnh của những loài cây, loài quả không chỉ có chức năng cung cấp nguồn lương thực, công cụ cho con người, đó còn là bức tranh về vẻ đẹp giản dị, mộc mạc về mền núi rừng Tây Nguyên. Chẳng hạn như: rừng hoa klông kpang đang nở rộ, giã gạo cho trắng như hoa êpang, gốc cây klông,
cây chuối, vv…Có khi là các đồ vật của con người được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và có thêm nhiều nét ý nghĩa trong sử thi như: chiếc máng vàng, cây ná, bầu nước, cái gùi, chà gạt, ché rượu, vòng tay, con cúi, cái cồng, cái chiêng, con diều, vv…Những đồ vật này biểu trưng cho chính đời sống tinh thần người Êđê.

Cách nói trong sử thi có tính biểu trưng dân tộc cao, từ đó tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc Êđê với các dân tộc khác, chẳng hạn trong sử thi như: Hơ Tung, Hơ lung nấu cơm, chỉ một bãi nước bọt vừa khô, chỉ một tiếng trầu vừa dập là cơm đà chín tới, Tôi tên là Hbia Sun, gốc nhà đàn bà con gái đều đẹp. Mẹ tôi là Hbia Pliô, cha tôi là Đăm Chây Kmlạ, Ơ ngàn chim sẻ, ơ vạn chim ngói, ơ tôi tớ của ta.

Có thể nói sự phong phú và đa dạng về hình ảnh thiên nhiên, con người cùng với cách nói ví von giàu hình ảnh đã dựng nên được bức tranh sinh động về buôn làng của người Êđê ngày xưa gắn với những chiến tích anh hùng, những cảnh sinh hoạt, các nghi lễ cổ truyền. Đồng thời qua những chi tiết biểu trưng trên đã tái hiện được một thời đại đầy hào hùng của cộng đồng người Êđê.

2.2.2. Phân loại biểu trưng nghệ thuật

2.2.2.1. Biểu trưng là các hình ảnh, sự vật sự việc có trong tự nhiên

Thiên nhiên trong sử thi hiện ra muôn màu muôn vẻ, đó là bức tranh khá toàn diện về cuộc sống được đặc tả với nhiều tầng lớp, cung bậc khác nhau, đó là hình ảnh các loại thú vật xuất hiện không chỉ dưới mặt đất mà có mặt trong chốn thần linh, hoặc là hình ảnh đồ vật quen thuộc trong lao động sản xuất, nghi lễ, lễ hội truyền thống người Êđê như: bầu nước, gùi, chà gạt, cái cồng, cái chiêng, vv…tiếp đến là hình ảnh biểu trưng là cây trái, hoa quả cũng xuất hiện trong sử thi đó là: cây tre, cây chuối, cây sung, cây đa, vv…cộng thêm đó là các hình ảnh mang tính khái quát làm nổi bật thêm vẻ đẹp con người Êđê, đó là hình ảnh như: bến nước, ngọn núi, dòng sông, buôn làng, vv…tạo nên một bức tranh sinh động đầy tính nghệ thuật. Trong sử thi Đăm Kteh Mlan không chỉ dừng lại ở việc thể hiện bức trang cuộc sống trần thế mà còn xây dựng nên bức tranh con người nơi thần linh mà ta thường gọi là tầng trời. Chính từ cuộc sống nơi thần linh đó mà giữa con người và thần linh vốn rất gần gũi nhau có quan hệ qua lại với nhau trong đời sống tâm linh con người nơi trần thế.

* Hình ảnh biểu trưng là các loài thú vật

Người Êđê trong cách nhìn nhận luôn xem trọng các con vật tự nhiên hay các con vật trong tự nhiên được con người thuần hóa. Vì vậy mà trong sử thi Đăm Kteh Mlan hình ảnh các loài thú vật xuất hiện rất dày đặc, đại diện cho nét tính cách, tâm hồn, cách sống cộng đồng dân tộc, và bắt nguồn từ các con vật tự nhiên mà con người đã sáng tạo nên con vật có sức mạnh thần linh.

Các con vật vốn quen thuộc trong tự nhiên như: con trâu, con bò, con chim, con ngựa, con cá, con cóc, con ong, vv…gắn với các đặc điểm được nhân hóa gần giống như con người, trong sử thi miêu tả tình yêu trai gái dùng hình ảnh như: ”Ong đang vườn hoa”, ”ngựa cột cương”, ”trâu xỏ mũi”, vv…

Ví dụ: Nàng Hbia Êma có mang đã bảy năm mà vẫn chưa sinh đã cúng heo không được, cúng gà không xong được miêu tả:

”Cuh u\n kbao jih sa war, tian ruôp ka truh” (cúng hết một chuồng gà, một chuồng trâu mà bụng vẫn không chuyển) [7; tr.137],

Có thể thấy trong sử thi các con vật còn được dùng để đại diện cho tính cách con người. Ví dụ như: con hùm, con voi, con tê giác, con rắn, vv…tượng trưng cho sức mạnh của con người mà cụ thể là người anh hùng.

Ví dụ: – Tính cách nàng Hbia Ling Pang: ”Êkei tuôm ma\ hlăm dliê, mniê tuôm ma\ hlăm êa, êra êdam ka bi blũ ya\l, yak lei mâo?” (Tôi đâu phải là con tê giác, con cọp mà anh không dám lại gần?) [7; tr.146].

- Và nàng đã khẳng định sức mạnh tình yêu của mình với mọi người như sau:

Tơ jing ta\ng t^t ta\ng ma\ng, mnga a\t drei djim sa knuh. Drei bi h’iêng mơ\ng “u\k ko# mse\ trang, mlâo kang brung, ung nao êdei, mo# nao êlâo. Đa\m ih lui ôh adei krah dưh, mjưh krah êlan”.

(Nếu bị cọp ăn, chúng ta sẽ nằm chung một đống, xác chúng ta sẽ chôn chung một huyệt. Nếu hóa thành bươm bướm chuồn chuồn, chúng ta sẽ hút nhụy chung một chùm hoa) [7; tr.178].

Ví dụ khác: – Thể hiện sự cương quyết trong xử lí tội loạn luân của con mình Đăm Păr Kvây đã ra lệnh cho tôi tớ của mình:

”Di ih ma\ be\ kpiê kjuh, êmô “lak kjuh, kbao knô kỗ kjuh drei, u\n krêo kỗ kjuh drei duh lăn!”

(Hãy đi lấy rượu bảy ché, bò trắng bảy con, trâu đực trắng bảy con, lợn thiến bảy con để chúng ta cúng đất nào?) [7; tr.167].

- Tiếp đến để diễn tả sự chuyển bến trong tự nhiên, sử thi Êđê còn dùng chính sự thay đổi sự sống của các thú vật, cụ thể là sự thay đổi khi có mưa sau cơn hạn hán lâu ngày:

”Kê` hla\m “a\ng kbia\ “ơ\ng, akan hlăm tơ\ng kbia\ duah, akan kdah hiu bi k”l^p bi k”lir. Hlô hla\m trăp kbia\ nao tơ hlang, c^m hla\m trang phiơr nao hla\m kyâo, Ktrâo ku\t ku tơ kgo\k, adro\k bi êwa “ho\k “ho\k nga\ khua đ^ dlông đa. Kra duah boh bi kmu\` bi kmê`”

(Chồn thỏ tung tăng chạy nhảy, cá trong hang trong vực bơi đi kiếm ăn quẫy lên khỏi mặt nước lấp la lấp lánh, Hươu nai bỏ đầm chạy lên bãi tranh. Chim chóc rời các bãi lau bay về rừng thẳm. Trên gốc cây con chim ngói đứng gù; con cóc bụng phập phồng cũng nhảy lên ngồi, trông như một vị thủ lĩnh. Khỉ thì nhăn nhó đi tìm quả; vượn thì đu đi đu lại kiếm trái cây, hai tay nhanh nhẹn) [7; tr.177].

Điều thú vị hơn trong sử thi là xuất hiện các con vật từ cách tưởng tượng của con người, hình ảnh những con vật đó đã được thần thánh hóa ngoài các yếu tố tự nhiên những con vật được con người cộng thêm nhiều yếu tố mới, từ hình dáng cho đến chức năng sử dụng nhằm biểu trưng cho sức mạnh thần linh như: ngựa cụt đuôi, voi cụp ngà, (9) bươm bướm, chuồn chuồn, cá nước, vv…

Ví dụ: – Hình ảnh Mtao Kla bảo Mli Kma xuống trần gian xem thực hư chuyện giữa Đăm Kteh Mlan và Hbia Ling Pang:

Ih tio\ nao mli kma, ma\ aseh đu\t ku, ê man gu mla tru\n nao tơ la\n ala, êmuh k`a la\ng ya be\ lkei di `u mâo. Da\m Mli Kma ma\ aseh đu\t ku, êman gu mla đuê nao kơ gu\. Truh tơ la\n ca\t mlâo, kyâo ê’un. Tơ di êa duôn su\n y r^t, ta\ng t^t ta\ng ma\ng, mơ\ng ana\n yơh la\n bi mbha, êa klah, kpah êng^t ho\ng la\n”.

(Con hãy bảo Mli Kma lấy ngựa cụt đuôi lấy voi cụp ngà đi ngay xuống trần, hỏi xem dưới ấy có chuyện gì vậy. Kli Kma lấy ngựa cụt đuôi, lấy voi cụp ngà ra đi chàng tới vùng đất mọc lông, cây mềm, khu rừng của Bà Sun Yrít, của bươm bướm, chuồn chuồn, khu rừng đó đất chia với trời, nước chảy đôi dòng giữa vòm trời và mặt đất) [7; tr.171].

- Hình ảnh Quạ đen giúp vợ chồng Đăm Kteh Mlan tìm nơi dựng buôn làng để làm ăn sinh sống như sau:

Ih tul dla\ng kâo phiơr, ayo\ng ho\! Ti anôk kâo dar leh ana\n kđhuh siap kjuh blư\, tơ ana\\n yơh ih mdơ\ng “uôn. Leh ana\n kâo dar kjuh blư\, tơ ana\n yơh, ih nga\ hma. Leh rue\ blu\, ak phiơr nao kơ `u. Truh tơ ênao la\m jang, ak dar leh ana\n kđhuh siap kjuh blư\, dar kjuh blư\. Da\m Kteh Mlan nga\ “uôn sang, pưk hma tơ ana\n yơh”.

(Ở đâu tôi lượn và vỗ cách bảy lần thì ở đó anh sẽ phát rẫy, cạnh làng tôi sẽ trồng cho anh một cây tông lông (10). Nói đất lời, quạ cất cánh bay lên, bay đến hồ Lam Dang thì lượn và vỗ cánh bảy lần, rồi lượn bảy vòng nửa. Thế là Đăm Kteh Mlan đã có chỗ dựng làm rẫy) [7; tr.180].

Sự xuất hiện các loài vật trong sử thi Đăm Kteh Mlan theo một hệ thống có sự sắp xếp, phân tầng bậc, đồng thời cùng nhau vận động; chẳng hạn, dưới mặt nước: con cá, con cóc, cá sấu, vv…trên mặt đất: con trâu, con bò, con gà, con lợn, con chuồn, vv…cao hơn nữa là: con quạ, con chim, con bướm, vv…và tầng trời là hình ảnh: con ngựa cụt đuôi, con voi cụp ngà. Chính từ cách nhìn như vậy đã tạo cho sử thi một trật tự có hệ thống phong phú mà không gây lộn xộn giữa các loài vật giữa các tầng trong trời đất cũng như là quan niệm của con người về thú vật trong thiên nhiên.

Qua những chi tiết vừa thực vừa tượng trưng trên có thể thấy các loài vật cũng có linh hồn có sức mạnh, đại diện cho những tính cách và mối quan hệ giữa con người với cuộc sống tự nhiên. Nếu như trường ca Đăm Săn là hình ảnh phong phú về các loài vật dưới cộng đồng tượng trưng cho sức mạnh của chàng thì trong sử thi Đăm Kteh Mlan lại là hình ảnh sinh động về các loài động vật tượng trưng cho tình đoàn kết trong cộng đồng và giũa cộng đồng con người với thế giới thần linh.

* Hình ảnh biểu trưng là đồ vật

Các hình ảnh là đồ vật quen thuộc vốn tồn tại trong thiên nhiên và cuộc sống con người, và một số hình ảnh đồ vật do con người tưởng tượng đã đi vào sử thi Đăm Kteh Mlan một cách tự nhiên, sinh động và cụ thể. Đó là đồ vật dùng trong lao động sản xuất như: kho thóc, bầu nước, chiếc gùi, vv…hay đồ vật dùng làm vũ khí săn bắn như: cây ná, cây nỏ, chà gạc, con dao, hoặc đồ vật dùng trong trang trí như: khăn sút, khăn đrê, dây cườm, chiếc nhẫn, vv…Ngoài ra còn xuất hiện những đồ vật linh thiêng như: con cúi, miếng vỏ nghệ, chiếc cồng, cái chiêng, vv…Tất cả các đồ vật trên rất gần gũi và phục vụ cho cuộc sống con người từ ăn, uống, ở, sinh hoạt cộng đồng, và đồ vật có chức năng gắn kết con người với con người, con người với thần linh. Qua đó thể hiện khát vọng vươn lên, chinh phục tự nhiên của con người.

Có thể phân loại các hình ảnh là đồ vật trong sử thi dựa vào chức năng của đồ vật thành bốn loại cơ bản sau: đồ vật dùng trong sinh hoạt lao động sản xuất, đồ vật dùng để săn bắt, đồ vật dùng để trang trí, đồ vật có yếu tố thần linh.

Hình ảnh là đồ vật dùng trong sinh hoạt lao động sản xuất thường xuất hiện trong sử thi rất đa dạng và phong phú như là: cái nong, cái nia, kho thóc, bầu nước, chiếc gùi, cái máng, cái thau, vv…

Ví dụ: – Hình ảnh chàng Đăm Par Kvây chuẩn bị trước khi đi rừng:

”Dăm Păr Kwei lông koh “ỡng la\ng mtei kbâo” (Đăm Par Kvây lấy cây ná nhỏ, bầu nước và mang gùi ra đi) [7; tr.128].

- Ý chí của chàng Đăm Par Kvây đối với Hbia Êma được sử thi đặc tả:

”Kga\ kâo co\ng công, jông co\ng krah, hdrah pưk hma co\ng ktiêt” (con chà gạc chặt bằng được, là cây rìu cố đẽ bằng xong) (11) [7; tr.133]. Hình ảnh cây chà gạc xuất hiện trong tác phẩm ngoài hình ảnh tả thực là dụng cụ lao động nó còn có thêm ý nghĩa nói đến uy tín, danh dự, lời hứa của con người.

- Hình ảnh là đồ vật là các dụng cụ như: cái dĩa, cái nồi, cái thau, ché rượu, cái sọt vv…Ví dụ để nói đến công dụng và ý nghĩa của cái sọt như: ”Akan krô sa k”ễ` dua k”ễ`, kễn krô sa bai dua bai” (Cá khô thì gắp này gắp kia, sọt này, sọt nọ)
[7; tr.159].

- Hình ảnh chiếc gùi con người dùng để đựng thức ăn, nước uống hằng ngày mà còn dùng chiếc gùi đó để đựng những thứ ngải, thuốc mê dùng để hại con người, vv…như vậy ngoài chức năng trên, chiếc gùi còn là vật thể hiện cho cuộc sống lao động, văn hóa ứng xử, phẩm chất con người với tự nhiên.

Ví dụ khác: Hình ảnh cái cuốc, cái rìu thường dùng phục vụ trong lao động sản xuất nông nghiệp nhưng khi đi vào sử thi nó lại được dùng như:kông pa\n hmei, hjei pơ\ng mdơ\ng kơ di ih, ơ Aê Aduôn” (Cả cái cuốc bóc vỏ mài nghệ và cái rìu để bổ củi như là của cải để chuộc tội) [7; tr.137].

Tóm lại, hình ảnh hiện ra là đồ vật trong lao động sản xuất đã tạo ra nhiều sáng tạo trong việc sử dụng đồng thời đi kèm nó đã sản sinh ra nhiều giá trị ý nghĩa về mặt tinh thần trong đời sống tinh thần người Êđê.

Hình ảnh là đồ vật có chức năng vũ khí
một mặt là công cụ săn bắt hiệu quả mặt khác là công cụ vũ khí chiến đấu bảo vệ buôn làng bộ tộc khi có chiến tranh xảy ra, các công cụ đó thường là: cây ná, cây nỏ, chà gạc, con dao, vv…

Ví dụ:Hình ảnh cây ná vốn là một thứ trò chơi của trẻ em nhờ quá trình cải tiến sử dụng mà nó trở thành dụng cụ săn bắn hết sức thuận lợi, hiệu quả, linh hoạt, chẳng hạn: dùng để bắn các loài động vật. Còn cây chà gạc vốn là một công cụ phục vụ cho sản xuất lao động nhưng cây chà gạc cũng là một vũ khí như trong sử thi chàng Đăm Par Kvây miêu tả:

”Kga\ kâo co\ng công, jông co\ng krah, hdrah pưk hma co\ng ktiêt” (Tôi là cây chà gạc quyết chặt bằng được, là cây rìu cố đẽo bằng xong) [7; tr.128]. Qua lời khẳng định của chàng mà ta thấy được cây chà gạc là một biểu tượng cho ý chí của con người.

- Hình ảnh con dao, cung tên, vv…một mặt con người dùng để phục vụ hoạt động sản xuất sinh hoạt mặt khác đó là vũ khí chiến đấu săn bắn rất hữu hiệu bảo vệ buôn làng. Trong trường ca Đăm săn thể hiện rất rõ qua hình ảnh: cây khiên, cây mác, vv…

Như vậy, các đồ vật với vai trò là vũ khí săn bắn, chiến đấu cho thấy được tư duy sáng tạo của con người. Đồng thời đó cũng là đặc điểm về văn hóa độc đáo người Êđê xưa đã sáng tạo nên.

Hình ảnh là đồ vật có chức năng dùng để trang trí tô điểm cho vẻ đẹp của con người trong sử thi bắt gặp như: đàn rộ, chiếc vòng, chiếc váy, dây cườm, con quay, chiếc nhẫn, vv…Hình ảnh những chiếc váy, chiếc khăn, chiếc vòng, vv…của người Êđê mang màu sắc riêng, thể hiện trên đó là màu sắc có mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, trên chiếc khăn, chiếc váy hai màu sắc chủ đạo là đen và đỏ với cách kết hợp độc đáo. Còn trên những chiếc vòng, con quay, chiếc nhẫn, vv…chủ yếu làm từ chất liệu trong tự nhiên như: gỗ, đá, đồng, sắt, vv…Tất cả đã tô điểm thêm cho vẻ đẹp con người.

Ví dụ: – Trong sử thi miêu tả vẻ đẹp nàng Hbia Êma như sau:

Ai bi ja\k, ai bi Siam êdimi phung anak ara\ng ana\n. Asei mlei mse\ si tuh ho\ng đ^ng, hl^ng ho\ng pra\, am^ ama di `u “a ho\ng khăn sut khăn drê mnga. {ar m’iêng jih grua ka\ ktia\m, “ar m’iêng tria\m đe#c rup mtu\, ao ju\ `uôm “a\l ê miê, kiê kngan mtih k`i\, ko\ gi\ êa m`ak, anak ja\ kmar kăn mâo pô mse\”.

(Người trông như đúc trong ống, như đổ bằng bạc, như được mẹ cha ẵm bằng khăn sút, khăn đrê thiêu hoa. Váy toàn viền tua đính cườm, thân váy niều tầng hoa văn thiêu hình ngôi sao, cổ tay đeo vòng kviêng ngón tay đeo nhẫn) [7; tr.128].

- Vẻ đẹp của nàng còn được khắc họa thêm: ””ar mliêng jih mrge sapăn pu\m mâo ao ka\ ktia\m `u jih dja\ bam b^t” (nàng mặc một váy thiêu tất cả tám bông hoa, có bao nhiêu áo đính hoa bạc, nàng điều mang theo cả) [7; tr.143].

Như vậy những đồ vật với vai trò là đồ trang sức thông qua cách sáng tạo của con người với lối diễn đạt nhân hóa, cường điệu, vv…làm cho giá trị sắc đẹp con người thêm lộng lẫy, hoàn mỹ hơn.

Hình ảnh là đồ vật xuất hiện mang yếu tố thần linh, do con người tưởng tượng từ những đồ vật có thực trong thực tế, đó là cầu nối giữa con người với thần linh như: con cúi, miếng vỏ nghệ, vòng đồng, cái cồng, cái chiêng, cây thang cóc, và các thứ ngải, vv…

Ví dụ: – Hình ảnh con cúi, miếng vỏ nghệ được nàng Hbia Êma sử dụng làm thông tin liên lạc với gia đình trên trời:

”Amai adei drei amâo bi tuôm, ih djă ba be\ ê ênuôn hmlei anei, ih ktiêt ti êlan, iêu mthưr kơ am^ âm drei thâo”

(Chị em vì vậy không được gặp nhau, thì em đem con cúi này ra cắm ngoài đường, gọi mẹ báo cha cho em biết để trên ấy thả cho em những thứ em cần)
[7; tr.135].

- Hình ảnh con cúi và miếng vỏ mài nghệ là cầu nối liên lạc giữa Hbia Ling Pang với trời:

”Mâo mơh, am^ ah. Sa ênuôn hmlei leh anăn sa po\k hmo\k k`^t” (Có, mẹ ạ, một con cúi và một miếng vỏ mài nghệ)
(12)
[7; tr.135].

- Nàng Hbia Êma mang bầu đã bảy năm mà vẫn chưa hạ sinh, lúc đó nàng dùng con cúi cắm ngoài đường nói chuyện với cha mẹ trên trời nhờ ba mẹ gửi thuốc cho nàng:

”Kjuh thu\n pi tian khuôt amâo thâo kkiêng. Dăm Păr Kwei ma\ hmlei nao ktiêt tơ aslan cia\ng bi mỗ `u djăl kkiêng, leh anăn êmuh hlei he\ anăn êmuh hlei he\ anăn anak `u”

(Nàng mang cái thai đã bảy năm mà bụng vẫn không thấy chuyển. Đăm Kteh Mlan đem con cúi ra cắm ngoài đường. Xin cho vợ được chóng sinh, cũng để hỏi luôn tên con sẽ đặt là gì?) [7; tr.136].

- Hình ảnh cái nong, cái nia xuất hiện xuất hiện khi ba mẹ trên trời gửi cho nàng Hbia Êma nhận được quả dưa đhu từ trên trời:

”Ih ma\ go\ k”u\ng anăn tu\k êa hlơr. Truh “ri yang hruê dơ\ng anei, adei kkiêng yơh. Ih ma\ kjuh lip mdiê “hu tơ adring leh anăn ih kăp dlăng. Tơ “uh boh kmu\n dhu ksa\ le\ hriê mơ\ng dlông”.

(Anh hãy đi lấy nồi bung nấu nước, mẹ chàng liền đi đun nước, lấy thóc bảy nong ra phơi trên sân và trông chừng, đúng lúc mặt trời vừa đứng bóng, một quả dưa đhu chín từ trời rơi xuống Hbia Hơ Nhây liền lấy đem cho con bà ăn) [7; tr.137].

- Hình ảnh về những thứ ngải hại người mà nàng Hbia Ling Pang dùng để hạ con diều của Đăm Kteh Mlan khi đang bay trên trời được miêu tả như sau:

”Anăn hla đih đưh trư\n hriê tơ la\n Hbia Ling Pang k”lur nao drao, md^ md^n angư\n mdei, hla đih đưh le\ hriê tơ la\n”

(Con diều liền chao qua chao lại rơi dần xuống đất, từ miệng Hbia Ling Pang một luồng ngải tiếp tục phun ra. Gió dồn dập dừng lại, con diều chao qua chao lại, rồi rơi hẳn xuống đất) [7; tr.147].

Ví dụ khác: – Hình ảnh tiếng cồng, tiếng chiêng trong trường ca Đăm San cũng có một sức mạnh phi thường:

Đánh những cái chiêng kêu nhất, những chiêng ấm tiếng nhất! Đánh cho tiếng chiêng lan ra khắp xứ! Đánh cho tiếng chiêng luồn qua sàn, lan xuống dưới đất! Đánh cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà vọng lên trời. Đánh cho khỉ trên cây cũng quên bám chặt vào cành đến phải ngả xuống đất! Đánh cho các âm hồn nghe tiếng cũng quên làm hại người. Đánh cho chuột, sóc cũng quên đào hang, cho rắn bò ra khỏi lỗ, cho hươu nai phải đứng thinh mà nghe, cho thỏ lắng tai không kịp ăn cỏ, cho tất cả muôn vật chỉ còn lại tiếng lắng tai nghe tiếng chiêng của Hơ Hhi và Hơ Bhơ nhí!” [17; tr.56].

Còn trong sử thi Đăm Kteh Mlan cồng chiêng hiện lên đó là những vật thể có giá trị về vật chất lẫn tinh thần phục vụ con người, chẳng hạn: Đăm Gi ra lệnh cho tôi tớ:

”Ma\ cing Yang bâo {uôn Âm Đơk, knah khơ\k blei mơ\ng Lao m`ê ghao rao djăp car kwar lăn ala”.

(Hãy lấy bộ chiêng Giang Bau của buôn Ama Đơk, hãy lấy bộ cồng mua tận bên Lào có tiếng vang rền khắp mọi nơi trên mặt đất này mà đánh) [7; tr.145].

- Cồng chiêng còn là đồ vật dùng để trả ơn khi người khác giúp việc gì đó:

”Tơ ih “uh, ih lac brei đa kâo tui ho\ng cing” (Nếu thấy, xin cho biết, tôi đền bằng một cái chiêng) [7; tr.148].

- Hình ảnh cây thang cóc là con đường đi lại giữa con người với thần linh trên trời, cụ thể là cầu nối giữa Đăm Par Kvây với Hbia Êma, Đăm Kteh Mlan với Hbia Ling Pang, vv…

”Tơ ih amâo w^t, kâo kkung ho\ng jao; tơ ih amâo nao, kâo kkung ho\ng abăn; ê`an ih kâo koh he\, ti êlan ih w^t?”

(Nếu các cô không chịu đi, tôi sẽ lấy chăn tôi cáng. Cây thang cóc của các cô tôi sẽ chặt đi, thử hỏi các cô còn về trời bằng đường nào?) (13)
[7; tr.133].

Hình ảnh các thứ ngải xuất hiện trong sử thi như là một thứ thuốc có hai mặt, mặt tốt giúp con người chống lại bệnh tật, chống lại sự khắc nghiệt của tự nhiên, chống lại các thứ ngải khác làm hại con người, còn mặt xấu các thứ ngải đó gây hại cho con người, và các thứ ngải trong sử thi chủ yếu là hại người.

Ví dụ: – Chàng Đăm Par Kvây trúng ngải thuốc mê nàng Hbia Êma đến con của hai người là chàng Đăm Kteh Mlan lại trúng phải ngải mê của nàng Hbia Ling Pang:

Hmei mma\t ala\ kơyu êya, knha\l knga kơyua k`^t, p^t đih hđang ayo\ng adei kơyua drao anei. Hmei êsu\n kma, êya truih, mnuih mnam amâo thâo djuê, mlo\ mluê amâo thâo krao kuôp. Mnuih mnam amâo thâo djuê, mlo\ mluê amâo thâo kral kuôp”.

(Chúng tôi mắt mời vì trúng gừng, say nén, nên làm người mà không biết đâu là họ hàng, là bầu bí mà không biết cuống của mình ở đâu, hễ gặp nhau trong rừng là thành vợ, đụng nhau trong rú là thành chồng, đi thung không còn kiêng, đi mây không còn cứ, ăn nằm với nhau không ai nói được) [7; tr.189].

”Ơ amiêt, ơ awa, ơ ama, ơ am^, êsu\n prông gha amâo lo\ “uh, êga pro\ng k”iêng, êtiêng pro\ng mta, drao êdam êra leh jih Hbia Ling Pang ma\, kơgua kơ drao nei yơh nga\ kơ di `u”

(Ơ ông cậu, ông bác, ơ cha, ơ mẹ! Các củ nén rễ to không còn thấy nữa; cả các củ gừng nhánh lớn, các củ êtiêng mắt to, tất cả những củ làm mê trai gái đó đã làm chúng trở thành mê muội) [7; tr.176].

- Các thứ ngải còn xuất hiện dười trần gian đó là hình ảnh túi đựng bảy thứ ngải của vua Quạ như sau:

Mtao Ak: – ha\, ih dja\ brei kdô kâo jao. Ayo\ng Da\m Kteh Mlan ah! Kâo nao pla brei boh tông lông kơ ih.

Ak nao pla bhoh tông lông tơ gah “uôn. Da\m Kteh Mlan lông po\k dla\ng lăng hla\m kdu\ng. Mtao ak mâo kjuh mta drao, giê kdrô thâo ktrâo hja\n, drao jho\ng kre#` ktang, mđia\ ya\n bhang amâo dlưh êyui, drao thâo kdưt thâo lia. Drao mnei cia\ng bi ung k”a\t êkei, mo# siam mniê”.

(Vua quạ: – Này anh Đăm Kteh Mlan, cầm giúp tôi cái túi này để tôi đi trồng giúp anh cây Tông Lông.

Vua quạ đi ra cạnh làng trồng một trái Tông Lông. Đăm Kteh mlan ở nhà mở túi ra xem. Vua Quạ có bảy thứ ngải, một cây gậy thần tự nó không rọi bóng, ngải biết nhảy biết lượn, ngải tắm vào chồng sẽ xinh trai, vợ sẽ đẹp gái)
[7; tr.137]

Hình ảnh cây thang cóc, các thứ ngải, con cúi, con ngựa cụt đuôi, con voi cụp ngà, vv… là phương tiện giúp con người và thần linh hiểu nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nhưng vẫn có khoảng cách khác biệt phân tầng giữa con người và thần linh khá rõ nét.

Ví dụ: Lời nàng Hbia Ling Pang như sau:

”Ơ ami\ ama, tơ di ih brei aseh, ya hmei cia\ng? Tơ ih brei êman, ya hmei cia\ng? Ih brei kơ neh hbia êma kơh, bi mâo êlan êrô êbat ho\ng di ih. Bi hmei mơ\ng anei kơ ana\p, tơ k”ah amre#c hra, hmei nao tơ sang di neh tơ gu\ anei gia\m hi\n. Bi ho\ng di ih tơ dlông kbưi đei, ya hmei ar nao!”.

(Ơ mẹ, ở cha, mẹ cho ngựa cho voi, con chẳng thích đâu. Ngựa voi con để làm gì? Mẹ hãy cho em Hbia Êma để có cái đi lại với mẹ cha. Còn chúng con thì từ nay trở đi, gặp khi thiếu dúm muối quả ớt, chúng quá xa làm sao con đi được) [7; tr.187].

Như vậy trong tác phẩm sử thi con người đã ý thức được khả năng vốn có của con người đó là tính tự lực, độc lập, không hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh siêu nhiên của giới thần linh trong đời sống tinh thần.

Tóm lại, đồ vật xuất hiện với vai trò là hiện thân sức mạnh của thần linh làm cho mọi sinh vật, cảnh sắc thêm sinh động, đồng thời đó cũng là tiếng nói phản ánh khát vọng của con người giao hòa với thần linh nhằm phục vụ cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, như vậy con người đã ý thức được khả năng của chính bản thân, đó là tính tự lực tự cường trong việc đoàn kết cộng đồng, không phụ thuộc hoàn toàn vào sức mạnh thần linh trong việc cải tạo chinh phục thế giới.

* Hình ảnh biểu trưng là cây cối, hoa quả

Hình ảnh các loại cây cối, hoa quả có trong tự nhiên khi đi vào sử thi ngoài những nét nghĩa cụ thể tả thực vốn có, còn mang thêm ý nghĩa mới đại diện cho cộng đồng người Êđê, từ các loại cây cối như: Cây sung, cây đa, cây rau,, cây chuối, cây mía, cây bầu, cây bí, vv…đến hoa quả như: quả chuối, quả dưa, cây kê, vv…

Các loại cây cối, hoa quả xuất hiện trong sử thi thường được dùng làm thức ăn, thức uống và dùng để chữa bệnh cho con người, hay để làm lễ vật trong các nghi lễ thần linh. Cụ thể như: Cây lúa, cây rau, đọt mây, bắp chuối, cây mía, cây nghệ, quả trứng gà, quả bầu, quả bí, vv…

Ví dụ: – Trong sử thi chàng Đăm Par Kvây từ nhỏ đã biết lên rừng chặt đọt mây, bắp chuối: ”Dăm Păr Kwei dê, truh hruê sa hiu sac wah trah yao, nao duah guôl mmông ciêm rông ba ama am^ `u” (Đăm Par Kvây đã đến tuổi biết đi tát cá ném câu, biết đi chặt đọt mây bắp chuối về nuôi cha mẹ rồi mà) [7; tr.127].

- ”Truh tơ Trăp Mtei, Drai Dhul, Dhăng lăng kơ kyâo ke\ ^k êrăng, mnga “âo mngưi tơ mdhư\. Guôl bo\ dhông, mnông bo\ trăp, mtei ksa\ luh, kbâo tuh tôk, prôk mja “ơ\ng amâo jih”

(Chàng đến đầm chuối thác mây thì thấy cả một khu rừng ki nhock êrăng, hoa thơm ngào ngạt; đọt mây bắp chuối đầy thung, chuối chín rụng khắp nơi, mía đã tróc lá, sóc chồn ăn không sao hết được) [7; tr.129].

Trong sử thi con người không chỉ ăn những thứ gạo bình thường mà còn biết trồng và nấu những thứ gạo quý và ngon mà chính bàn tay họ trồng, họ thường dùng để mời những vị khách quý.

Ví dụ như: – Đăm Gi, Đăm Giăng mời Đăm Kteh Mlan được miêu tả:

Kna\ be\ êsei kơ jia\ng Da\m Kteh Mlan! Ma\ be\ mdiê hdrô mda bla ksa\, hua\ thu\n anei thu\n êdei amâo êpa. Kna\ braih wia\t wê kha\ng. Wia\t wa\ng ê’un, braih aduôn sun mo\ng đưm. Ih ma\ mnu\ ana kra\m ca\m mnu\ ana mboh, hroh braih mse\ mnga êpang yang hruê, kna\ êsei kơ jia\ng sa blư\ sa “ang anei”.

(Các em đi nấu cơm đãi diêng Đăm Kteh Mlan nào! Nhớ lấy lúa hdrô còn tươi, lúa bla đã chín, ăn năm này năm sau chưa đói.(14) Các em hãy nấu với gạo Viăt vê cơm cứng, với gạo viăt cơm dẻo, gạo của bà Ađuôn từ xưa. Các em hãy bắt con gà mái đang ấp, giết con gà mái đang đẻ, giã gạo cho trắng như hoa êpang, cho sáng như ánh mặt trời)
[7; tr. 144].

- Hình ảnh chàng Đăm Kteh Mlan đi đốn tre về làm khung diều được miểu tả hết sức độc đáo:

”Chàng leo đến ngọn núi chự Tling, cho đến sườn núi chự Keh chàng chặt tre trong bảy ngày bảy đêm rồi mới trở về”
[7; tr.146].

Từ các hình ảnh xuất hiện trong sử thi về quá trình canh tác nương rẫy, săn bắn thú rừng có thể thấy rằng con người rất ý thức về bảo vệ môi trường, từ đất đai cho đến các loài thú vật tự nhiên.

Ví dụ khác: Hình ảnh cây đa, cây sung xuất hiện trong sử thi với ý nghĩa biểu trưng cho cộng đồng dùng để chỉ những người già làng là những vị tù trưởng giàu mạnh, chẳng hạn trong sử thi Đăm Ktek Mlan đó là: ”Dăm Kteh Mlan Asei pô dijê, êdei kđi ênua kơ ama”

(Đăm Kteh Mlan hết nằm ngửa ở gốc cây đa, lại đến nằm sấp ở gốc cây sung)
[8; tr.160].

Cảnh sung túc sau những ngày lao động vất vả cũng được sử thi phản ánh tỉ mỉ, sâu sắc trên nhiều phương diện. Từ hình ảnh đó có thể thấy thiên nhiên và con người có mối quan hệ gắn bó hài hòa với nhau.

Ví dụ: Hình ảnh lên nương lên rẫy được sử thi miêu tả:

Ung mo# di `u suôr tliêr. Aguah nao kơ hma, êla ku. Ti nao, nao mb^t. ti hiu, hiu tuôm. Hma điêt buh mdiê bla, hma pro\ng buh mdiê hdrô. Rông êmô bo\ êngao. Kbao bo\ dliê, mdiê “uc bro\ng “ơng hua\ amâo jih. Nga\ pưk “ai êda, nga\ hma “ai roh, pla boh kiêu m’o# bo\ kmtơ\ng dhông”.

(Sáng trên rẫy, trưa ở bẫy, đi đâu cùng đi, đến đâu cũng đi, đến đâu cũng có mặt cả hai người. Rẫy nhỏ thì tỉa lúa bha, rẫy lớn thì trỉa lúa hdrô, làm rẫy thì bìa rẫy rộng, xoài muỗm trồng đầy rừng đầy thung) [7; tr.179].

Các loài cây có chức năng hữu hiệu trong việc dùng để chữa bệnh cho con người như trong sử thi đó là: quả đhu, rau trộn với cam thảo, củ êtiêng, cây thuốc lá, vv…

Ví dụ: nàng Hbia Êma bị chàng Đăm Par Kvây ném bùn trúng người thì chị Hbia kjuh bày cho em Hbia Êma cách chữa đó là:

”Bùn ấy mà rơi xuống đùi thì em cứ thoa bằng nghệ, rơi vào vú thì em cứ bôi bằng ksoa em ạ” (15) [7; tr.131].

Điều thú vị là hình ảnh hoa quả còn mang ý nghĩa biểu trưng cho vẻ đẹp của con người cũng như thiên nhiên như: mùi hương nghệ, hương ksoa thơm ngào ngạt, gốc cây hẹn hò Tlông, giã gạo trắng như hoa êpang, vv…Ví khuôn mặt đẹp như: ”Khuôn mặt trái xoan, đẹp như quả trứng gà”. Sức mạnh con người được ví như: ”Mai sau nếu cây ghuih không ra hoa, cây sung không đâm chồi, cây thuốc lá không ra hoa… ” .

Ví dụ: Nàng Hbia Ling Pang trong sử thi được miêu tả như sau:

Kđiêng tlao kâo brei kơ aê yang mya, kđiêng êma kâo brei kơ aê puic dah, ih brei boh sah, ih duah boh mdro\ng, ih thiê boh jho\ng ktang. {ro\ng êgiêr amâo mâo pô bi nông”.

(Tôi xin đưa ba ngón tay lên kêu Giàng Mya, xin giơ năm ngón tay kêu Ay Puich Dah, các ngài hãy ban cho con tôi sự giàu sang và lòng dũng cảm, không một ngọn êgiêr nào theo kịp, không một ngọn klông nào sánh tày) [7; tr.138].

Cây cối, hoa quả mang những yếu tố thần linh thông qua quá trình con người vật thể hóa nhằm tạo ra những giá trị về mặt nghệ thuật.

Ví dụ: Hình ảnh cây Tông Lông Được vua Quạ trồng cho chàng Đăm Kteh Mlan dùng để làm đường lên trời:

”Kjuh thu\n tuh êa, êma thu\n mbu\ phu\n, kyâo Tông Lông “rư\ hruê “rư\ dlông, “rư\ thu\n “rư\ pro\ng. Êbeh pluh thu\n, kyâo Tông Lông pro\ng, phu\n sa dar amâo ju\m, adhan sa mlan ktu ê amâo tuc, hla sa êwa c^m bh^ phiơr, kna\t suôr adiê”.

(Bảy năm tưới nước, năm năm vun gốc Cây Tông Lông mỗi ngày một cao, mỗi năm một lớn. Hơn bảy năm gốc cây to đi một năm không giáp vòng, cành cây to lần theo một năm không giáp ngọn, tán lá rộng vừa một hơi chim phị bay, còn ngọn non của nó đã đụng trời) [7; tr.188].

Hình ảnh Cây Tông lông, chim phị, (16) hồn lúa của bà Ađuôn Sun, vv…chính là biểu tượng cho ý chí khát vọng vươn lên của con người mong muốn thoát khỏi cuộc sống khắc nghiệt, chinh phục thiên nhiên, ước mơ vươn đến gần thế giới thần linh. Và từ lâu trong tiềm thức đã nhìn nhận ở miền núi rừng Tây Nguyên mặt đất có hình lượn sóng như những cái nong, cái nia mà người Êđê gọi là cái lưng của tổ tiên ông bà.

* Hình ảnh biểu trưng là thiên nhiên

Hình ảnh biểu trưng thiên nhiên là những sự vật, sự việc có hình, có khối tác động trực tiếp vào thị giác chúng ta và các hình ảnh do con người tưởng tượng ra về bức tranh thiên nhiên trong cuộc sống như: bến nước, ngọn núi, cây thang, con diều, vv…

Có thể phân chia các hình ảnh về thiên nhiên thành hai loại cơ bản: đó là loại hình ảnh vốn có trong thiên nhiên và hình hình ảnh do con người thông qua trí tưởng tượng sáng tạo ra. Và cả hai loại hình ảnh này đều bắt nguồn từ hiện thực tự nhiên trong đời sống vật chất và tinh thần cho con người.

Hình ảnh biểu trưng thiên nhiên vốn có trong tự nhiên như là: khu rừng hẹn hò, bến nước, những tảng đá phẳng lì, rừng hoa Kơnick êrăng đầy hương thơm ngào ngạt, chim cu xanh đầy cả một vùng dâu đất, vv…

Ví dụ: – Hình ảnh bến nước trong tự nhiên được sử thi miêu tả như sau:

”Ai bi siam êdimi p^n êa arăng anei! Knang kông kdrông mah p^n êa êa sah mdo\ng ka\n mâo sonei! M’ ak êdimi dliê trăp”

(Sao mà đẹp thế cái bến nước nhà người ta này! Cầu bằng đồng, máng bằng vàng. Các tù trưởng nhà giàu làm sao mà có được một bến nước, một bến nước như vậy)
[7; tr.129].

- Hình ảnh chàng Đăm Kteh Mlan đi tìm nơi dựng làng được sử thi miêu tả rất cụ thể:

”Nao truh tơ tơ\ng kting, dla\ng la\ng arơ arư kơ kyâo kc^k êrăng, lăn mnga, êa êngeh rông aseh khao tloh rai m’ak”

(Đi cho đến vực Tâng kting thì thấy cả một rừng Kơnick Ểrăng mênh mông bát ngát, suối trong vắt, đất nở hoa, nơi này mà thả trâu thì tuyệt là đẹp)
[7; tr.180].

Hình ảnh biểu trưng thiên nhiên còn được con người dựa trên hình ảnh có sẵn trong tự nhiên mà xây dựng nên những hình ảnh có tính thần linh có ý nghĩa nghệ thuật như: bến nước của trời, ong đang vườn hoa, con chà gạc quyết chặt bằng được, con rìu cố đẽo bằng xong, cây thang cóc, con cúi ngoài đường, con diều, hình ảnh vạn vật trước và sau khi có mưa, vv…

Ví dụ: – Hình ảnh con diều của chàng Đăm Kteh Mlan thể hiện qua các chi tiết sau:

”Kjuh hruê mlan, kram, leh anăn đue\ kơ “uôn, nga\ jar hla yơh leh nga\ hla, ba nao mđue\, hla `u prue\ dơ\ng sapa\n, pruê ga\n, pruê ga\n êma”

(Diều của Đăm Kteh mlan, chiều cao tám dây dằng, chiều ngang năm dây. Con diều bay lên gặp gió, bộ ve kêu rộn rang vang khắp các tầng mây trắng mây đen) [7; tr.146].

- Hình ảnh trời mưa do các vị thần linh trên trời ban cho trần gian sau cơn hạn rất cụ thể:

W^t tơ sang, aê mtao tlua\, aê kbua\ la\n, aê mgha\n ti dlông pruh nao êa tơ “a\ng bha\. Ang^n mơ\ng ngo\ kpuh knam ju\, ang^n mơ\ng yu\ mđ^ knam hrah, ang^n krah la\n mđ^ kơ dlông, kpuh hla klông nkpang bi myơ\ myơ\ng”.

(Về đến nhà các ông Ay Mtao Tlọa, Ay Kbọa Lăn, Ay Mghị ở dưới đất, Ay Mghăn (17) ở trên trời liền phun ngay nước qua các cửa lớn cửa nhỏ, gió đàng Đông, mây đen thổi tới, gió đằng Tây, mây đỏ đùn lên. Gió ở giữa cuốn lên cao, kéo theo lá klông Kpang bay tới tấp. Gió từ núi chự Giăng Mtian, mưa từ đỉnh chự Hmụn ào ào cuốn theo sỏi đá. Mưa liền trong bảy ngày đêm, nước trong vực tràn ra)
[7; tr.177].

Tóm lại, hình ảnh thiên nhiên trong sử thi thường xuất hiện là những hình ảnh vốn quen thuộc trong tự nhiên qua cách tưởng tượng sáng tạo của con người mà bức tranh thiên nhiên có nhiều màu sắc độc đáo, sinh động về đời sống cộng đồng người Êđê.

2.2.2.2. Biểu trưng là các hình ảnh tưởng tượng

Trong sử thi Đăm Kteh Mlan nói riêng và sử thi Tây Nguyên nói chung thì yếu tố tưởng tượng về các hiện tượng trong tự nhiên gắn với hình ảnh con người thường rất đa dạng. Những hình ảnh đó bắt nguồn từ chính cuộc sống sinh hoạt của con người hay là bức tranh thiên nhiên được con người vật thể hóa, so sánh tạo nên một chỉnh thể hoàn chỉnh phản ánh xã hội thời đại xưa. Chẳng hạn như cuộc sống của các vị thần linh, hình ảnh các dòng sông bến nước có sức mạnh thần kì, các cuộc nói chuyện giữa người dưới mặt đất với con người sống trên trời, hình ảnh khắc nghiệt của thiên nhiên trước sự trừng phạt của các vị thần, vv…

Có thể phân chia các hình ảnh do con người tưởng tượng có ý nghĩa biểu trưng thành những loại cơ bản sau: hình ảnh thiên nhiên, hình ảnh về cuộc sống sinh hoạt của con người trên trời (thần linh). Trước tiên qua con mắt cảm nhận từ thực tế cuộc sống qua quá trình tư duy sáng tao, con người không ngừng cải tạo thiên nhiên để phản ánh những khát vọng, con người đã xây dựng nên những hình ảnh thiên nhiên độc đáo như: hình ảnh bến nước của nhà trời, con diều trên bầu trời, hình ảnh buôn làng vào mùa, vv…

Ví dụ: Hình ảnh bến nước được sử thi miêu tả rất cụ thể, sinh động đó là nơi giành cho vẻ đẹp chốn thần linh như:

Kê` hla\m “a\ng kbia\ “ơ\ng, akan hla\m tơ\ng kbia\ duah, akan kdah hiu bi k”l^p bi k”lir. Hlô hla\m tra\p kbia\ nao tơ hlang, c^m hla\m trang phiơr nao hla\m kyâo, ktrâo ku\t ku tơ kgo\k, adro\k bi êwa “ho\k “ho\k nga\ khua đ^ dlông đa. Kra duah boh bi kmu\` bi kme#`”.

(Sao mà đẹp thế cái bến nước của nhà người ta này! cầu bằng đồng, máng bằng vàng. Các tù trưởng nhà giàu làm sao có được bến nước như vậy. Quả là đẹp thật cái vung Đầm chuối, Thác Mây, cái khu rừng hò hẹn của Y Tang Y But, cái bến nước của nhà trời với những tảng đá phẳng lì, với rừng kơchik êrăng đầy hương thơm ngào ngạt này!) [7; tr.128].

- Hình ảnh con diều trong sử thi mang vẻ đẹp khá ấn tượng được diễn tả:

”Lao w^t tru\n dôk ku\n ti êlan. Ku\r hiu mnia hmư\ wao hla dôk mdei hlăm kmơ\ng. M`ê ktơng arơ\ng tar biut knam. Đei kơ m’ak hmư\ wao hla, mniê nao kơ êa wở b^t ma\ diuh, mnuih êtuh êbâo jih dôk mđing hmư\ wao hal”.

(Nó lấp lánh chao sang phải, lại lấp liếng sang trái, bộ ve ngân lên những tiếng vi vu nghe như tiếng la mẹ. Nghe tiếng diều, các cô gái trong làng không còn bụng dạ nào ngồi dệt nữa. Những người Lào xuôi ngược mua bán dừng lại ngồi co ro ở giữa đường, các lái buôn người Kur cũng dừng chân ngồi nghỉ giữa rừng, để nghe tiếng ve con diều! Các bà đi lấy nước quên hứng nước, các cô đi hái củi quên hái củi)
[7; tr.146].

Như vậy, thiên nhiên hiện ra dường như có linh hồn, có sự chuyển động và tràn đầy sức sống, làm tăng thêm vẻ đẹp con người, tạo ra ý nghĩa bao quát nội dung và khái quát được các hình ảnh trong sử thi.

Hình ảnh về cuộc sống sinh hoạt của con người qua cách thể hiện dưới góc độ thần thánh hóa cũng khá đa dạng, hết sức gần giũ như chính cuộc sống con người nhung không thiếu phần huyền bí về các thế hệ gia đình thần linh

Ví dụ: – Trước khi về trời nàng Hbia Kjuh dặn nàng Hbia Êma như sau:

”Ơ Am^ Hbia Klu, ơ Ama Mtao Kla , ơ Awa Aê Du, ơ Amiêt Aê Adiê , ơ iê Pro\ng Mưng, Amai Hbia Kjuh, Lăn ih pô kpit, êng^t pô klia, êa juôr pô mjing”.

(Ông Bác Ay Đu, ơ Ông Cậu Ay Ađiê, ơ Anh Prong Mưng, ơ chị Kjuh. Các Ngài là những đấng đã nặn nên đất, đã san nên trời, đã vạch ra sông suối, đã làm ra mưa, được sinh ra cây cối và loài người)
[7; tr.134].

- Đăm Par Kvây dùng hình ảnh các vị thần để minh chứng cho những lời giao ước với thần linh như sau:

”Ih Aê Mgh^ dôk ti lăn pô kpit êng^t pô klia, êa juôr pô mjing, Di ih pô tuh êa, pô pla kyâo, mâo mmuih kmưn mơ\ng di ih”.

(Tôi xin dâng lên Ay Mghị ở dưới mặt đất, Ay Mghãn ở trên trời các lễ vật này. Các ngài là người nặn nên đất, san nên trời, vạch ra sông suối. Các ngài làm ra mưa, sinh ra cây cuối, sinh ra loài người)’ [7; tr.167].

Các vị thần linh thường rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt như con người, từ công việc đến những tính cách của họ, nhưng các vị thần đại diện cho sức mạnh của siêu nhiên trong thế giới con người. Chẳng hạn; để cứu muôn loài dưới mặt đất vì nắng hạn mà dòng họ nàng Hbia Ling Pang đã họp dòng họ để tìm cách giải quyết cả dòng họ đã có một cuộc họp giống như một phiên tòa xét xử mà hình phạt dựa trên cơ sở luật tục của người Êđê, đây cũng là điểm tiến bộ của xã hội người Êđê.

Ví dụ: – Cuộc họp gia đình khi có mặt đông đủ tất cả mọi người được tiến hành như sau:

Hbia kjuh iêu juê êngai amai adei, aê aduôn, jih mnuih “uôn sang nao k”i\n tơ sang `u. Aê Adiê dja\ kju, Aê Du dja\ đao, Aê Mtao Tlua\, Aê Kbua\ La\n, Âê Mghi\ ti la\n, Aê Mgha\n tơ adiê hriê tơ sang Hbia Hjuh. Truh ênu\m ga\p djiê, amai adei `u tơ ana\n. tơ gu\ lang a`uê tông, tơ dlông lang a`uê hrah, dah boh anôk sah mdro\ng dôk ya\l dliê. Kông hla\m “ul kdoh tơ tac, giê ênoh hla\m đ^ng kbia\, kkđi “ia\ lu dook bi phat, klei ju\ jhat dôk bi mkra”.

(Hbia Kjuh đi gọi tất cả các chị em, các chị em, các ông bác ông cậu, gọi tất cả mọi người đến họp tại nhà bà. Ông Ay Ađiê cầm giáo, Ông Ay Mtao Tlọa, Ông Ay kbọa Lăn, Ông Ay mghị ở dưới đất, Ông Maghăn ở trên trời, đều kéo nhau đến nhà Hbia Kjuh. Một chiếc chiếu trắng trải dưới, một chiếu đỏ trải trên dùng làm chỗ ngồi cho các nhà giàu sang ngồi nói chuyện. Các vòng đồng đã lấy ra khỏi gùi, bộ que tính đã rút ra khỏi ống, chuyện ít chuyện chuyện nhiều cùng nhau gồi xét xử, chuyện xấu xa cùng nhau ngồi bàn cách chữa chạy)
[7; tr.173].

- Các vị thần đã tìm ra cách một giải cách hợp tình hợp lí trước tội lỗi của con người như sau:

”Aê Mghăn tơ adiê pô thiê êa hl^m hjan, di ih brei be\ adiê hjan đa djiê he\ anak jia\ kmar jih”

(Hôm nay có Ông Ay Mghãn ở trên trời là những người làm ra mưa, xin các ông hãy cho mưa xuống để cứu lấy loài người)
[7; tr.153].

Trong thế giới thần linh mỗi vị thần có một chức trách riêng để hài hòa được phân tầng trong xã hội thần linh, chẳng hạn: có thần sáng chế ra trời, thần cai quản đất, thần tạo mưa, thần canh gác cổng trời, vv…

Cảnh sinh hoạt lao động sản xuất thần linh cũng được sử thi phản ánh, đó là những cảnh lên nương, trồng tỉa, săn bắt, hái lượm giống như chính cuộc sống con người.

Ví dụ: hình ảnh gia đình nàng Hbia Kjuh lên nương, lên rẫy:

”Hai bà chồng bà sáng vẫn lên rẫy, trưa trưa vẫn công này việc nọ, ngày ngày vẫn chăm lo việc gài bãi dào hầm”.
[7; tr.143]

Thần linh xuất hiện trong sử thi còn được miêu tả thông qua tính cách của từng người, chẳng hạn: nàng Hbia Kjuh thì rất mực thương con dù con gây ra tội loạn luân, nàng Hbia Ling Pang thì đầy cá tính không nghe lời cha mẹ, còn cha của Đăm Kteh Mlan luôn tỏ ra điềm đạm trong việc xử lí các tình huống phức tạp, cụ thể như khi biết tin con của mình là hai anh em mà lại lấy nhau trước sự phẫn nộ của nàng Hbia Êma.

Ví dụ: – Chàng Đăm Par Kvây lại nhẹ nhàng nói với nàng Hbia Ling Pang để hiểu rõ hơn như sau: ”Ih le\ ktuê la\ng, ơ hbu\ Hbia ling Pang” (Bây giờ đến lượt con kể đi, ơ Hbia Ling Pang, con gái cưng của cha!)
[7; tr.163].

- Sau đó chàng mới khuyên giải với nàng Hbia Êma như sau:

”Lui be\, adei ah. Kha\ ih ta\m pah nao, si thâo mjing? Hbia ling pang anei tơ brei `u wi\t, ti mâo êlan: tơ lui he\ `u hla\m dliê anei, đa êmông hua mja đoh he\, đa soh pô mơh”. (Thôi em à! Nếu em sỉ vả nữa cũng chẳng để làm gì! Hbia Ling Pang đã như vậy, nếu cho nó về trên ấy thì lấy đường nào cho chúng đi. Còn để nó lại trong rừng này thì e cọp sẽ tha, chồn sẽ kéo, e rồi lỗi cũng tại chúng ta)
[7; tr.165].

Như vậy những vị thần có những thái độ yêu quý hoặc ghét bỏ những điều xấu giống như chính bản năng trong mỗi con người. Vì thế mà họ đều có ý thức duy trì cân đối hài hòa tình đoàn kết tránh những xung đột trong các mối quan hệ giữa con người với nhau.

Trong những hình ảnh về cuộc sống hay do con người tưởng tượng ra có một mối quan hệ mật thiết xuyên suốt toàn bộ sử thi. Đó chính là mối quan hện giữa thần linh với con người trần thế. Ví như con người thần linh và trần thế họ có thể nói chuyện với nhau, yêu nhau, kết thành vợ chồng, vv…quan hệ mật thiết với nhau, từ điểm này tạo ra một tư duy mới trong việc nhìn nhận, coi trọng ý nghĩa vai trò các vị thần linh.

Ví dụ: – Chàng Đăm Par Kvây hỏi cha của mình có thể lấy các cô gái trên trời thường tắm bến nước.

”Da\m Pa\k Kwei: – Ơ ama, mbruê ih lac kơ kâo phung hbia kjuh hla\m tra\p mtei adih, si nga\ di `u amâo mâo ung he\, ơ ama? Bi anak ja\ kma\r drei dưi mơ\ dôk di `u?

Da\m Grung: – kjuh cô amai adei di `u ka mâo ung s’a^. drei anak ja\ kma\r dưi mơh dôk. Sa\m mơh hu^ so# drao di `u, hlei pô djo\ he\ drao ana\n, dôk pô ana\n yơh”.

(Đăm Par Kvây: – Ơ cha! Hôm quạ cha nói ở Đầm Chuối thường có chị em Hbia Kjuh xuống tắm. Họ thế nào, đã có chồng chưa? Người trần như chúng ta có lấy họ được không, cha?

Đăm Grưng: – Cả bảy chị em đều chưa có chồng, người trần như chúng ta cũng lấy họ được, con ạ. Nhưng điều đáng sợ là thuốc mê của họ, trúng thuốc mê của ai là lấy người ấy) [7; tr.130].

- Hình ảnh Prong Mưng với người lái buôn bên Lào như sau:

PRO\\NG MƯNG: – Ơ ku\r mnia đao. Ơ Lao ghan aseh, kâo amâo djo\ mnuih hđeh êla\k ôh. Tơ ih blu\ amâo mngac, tơ ih lac amâo kpa\, tơ ih nga\ mde#c mdar, kâo koh mdjiê di ih tơ anei. Si nga\ di ih tuôm êdi he\ Hbia Ling Pang ho\ng Da\m Kteh Mlan? Ti anôk di ih “uh di `u?

LAO: – Yô, aê yô! P^n, aê P^n! Ih m^n dah hmei luar deh. Hmei tuôm êdi lah, êa ah. Da\m Kteh Mlan a\t hmei tuôm kral mơ\ng điêt. Êlan ana\n hmei kha\ng đ^ tru\n mnia. Êlâo adih amâo mâo “uôn sang ôh tơ ana\n. Ara\ anei mâo “uôn pro\ng mnuih lu. Mơ\ng be\ ara\ng hriê ana\n, ka\n hmei thâo lei. Sang Da\m Kteh Mlan tơ krah, dah boh sah mdro\ng mrâo”.

(Prong Mưng: – Ơ người Kur bán đao, ơ người Lào buôn ngựa, ta đâu phải là một đứa trẻ con. Nếu các người nói quanh nói co, không ngay không rõ, ta sẽ chém đầu các ngươi đó. Nghe! Sao các ngươi có thật gặp Hbia Ling Pang Và Đăm Kteh Mlan không? Gặp ở đâu ?

Lái buôn người Lào: – Ơ ông muôn lần đáng kính! Ơ ông muôn lần đáng trọng! Ông nghĩ chúng tôi nói dối ông à! Chúng tôi đã gặp thật đấy. Chàng Đăm Kteh mlan chúng tôi đã biết từ hồi còn bé) [7; tr.185].

- Hình ảnh Đăm Kteh Mlan đi khỏi làng gặp vua Quạ đang bay lượn như sau:

”Ơ adei Ak, ih đru brei be\ kâo mdơ\ng sang nga\ pưk hma, adei ah. Leh anăn kâo brei kơ ih kjuh ktat boh mnu\, kjuh go\ esei”

”Ơ chú quạ, chú hãy giúp tôi dựng làng phát rãy! Tôi sẽ biếu chú trứng gà bảy ổ, cơm bảy nồi. Quạ lại đỗ xuống làm phép dựng làng phát dãy cho Đăm Kteh Mlan”
[7; tr.181].

Cuộc sống sinh hoạt lao động còn hiện ra từ các cụ già đến trai gái, trẻ con, mỗi người một việc. Họ điều hăng say lao động sản xuất mong muốn một cuộc sống sung túc và xây dựng buôn làng ngày một giàu đẹp.

Ví dụ: – Hình ảnh buôn làng của chàng Đăm Kteh Mlan và nàng Hbia Ling Pang trong sử thi được miêu tả như sau:

Gái giã gạo, trai bổ củi, đàn bà nấu cơm, người giúp việc ăn uống,đàn ông làm bẫy, đàn bà lo việc gạo nước, nồi bung, nồi bảy điều tách ra , trẻ em đi lấy nước, nào người lớn đi bổ củi, người đông cả trăm cả ngàn vốn từ các nơi đến đây sống tựa” [7; tr.185].

- Trong trường ca Đăm Săn hình ảnh dân làng trù phú, đông đúc, vui tươi, đẹp đẽ hiện lên như sau:

”Họ ra đi người đen như đám mây, xám như dây khua, đông như muối như kiến. Họ đến suối rồi đến đầu làng. Làng thật to lớn. Nương rẫy ở cửa rừng đều làm cỏ sạch sẽ. rẫy chiếm các đỉnh đồi cao. Làng ở lưng chừng sườn đồi. Trên sườn đồi trâu lố nhô đen như những quả dưa chín. Bò đỏ như dưa ưng. Trâu bò lúc nhúc như mối trắng, như kiến đen, nhà cửa nhiều như cát. Nước suối chảy trên những tản đá bằng. Hàng dào phía thấp bằng mây và sắt, phía cao bằng gai” [17; tr.21].

Với cách so sánh nhiều lần độc đáo trên đã tạo cảm giác thú vị hấp dẫn người đọc, đồng thời làm cho nhiều hình ảnh cụ thể đi vào tác phẩm một cách tự nhiên mà phong phú, sinh động về một buôn làng nhộn nhịp, giàu có và rất đông đúc.

Nói tóm lại, những hình ảnh do con người dựa vào thiên nhiên đã khái quát lên thành những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng về một thế giới mà ở đó con người có mối quan hệ đa chiều với nhau, giữa con người với thần linh. Tuy con người và thần linh có khả năng sức mạnh chi phối lẫn nhau nhưng vẫn quan tâm thương yêu nhau tạo ra giá trị nhân văn cao cả trong sử thi. Qua đó cũng phản ánh ước mơ của con người vươn lên một cuộc sống như các vị thần trên trời nơi đó con người được tận hưởng những gì mà họ lao động sáng tạo ra, đồng thời đó cũng là khát vọng tình yêu, niềm hạnh phúc, mà vẫn không mất đi tính thiêng liêng sự tôn kính của người Êđê đối với thế giới thần linh trên trời.

2.2.3. Hình ảnh biểu trưng nghệ thuật còn là sự kết hợp giữa các con số ước lệ với hình ảnh cụ thể

Có thể nói các con số xuất hiện trong sử thi Đăm Kteh Mlan đều gắn liền với những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang tính biểu trưng, thông thường các con số đó được cấu tạo bằng các con số lẻ mang ý nghĩa ước lượng như: 1, 3, 5, 7 hoặc lớn hơn: hàng trăm, hằng nghìn, hàng vạn, vv…các con số này thường kết hợp với những hình ảnh. Với việc sử dụng những con số biểu trưng trong sử thi mà câu văn thường ngắn gọn và vượt cấp về nội dung ý nghĩa. Dựa trên đặc điểm hình ảnh mà ta thấy các con số cũng có đặc điểm là: các số lẻ và hình ảnh đi kèm là những hình ảnh mang tính tả thực, cùng với những hình ảnh đi kèm là những những con số mang ý nghĩa biểu trưng, cũng có khi các con số đi kèm với những hình ảnh vừa mang ý nghĩa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu trưng.

Trước tiên các con số với ý nghĩa biểu trưng tả thực người Êđê nói riêng và người Tây Nguyên nói chung có thói quen thích dùng các con số lẻ như: 1, 3, 5, 7, kết hợp với các hình ảnh đi kèm như: 7 cái máng đẹp, 7 nàng Hbia xuống tắm, 1 cây nỏ, 1 con chà gạc, 1 cái gùi bung, 1 bắp chuối, đánh dây trong 3 tháng được 3 sọt, trăng mọc được 3 đêm, vv …Những con số này thường đi kèm là những hình ảnh tả thực.

Ví dụ: – Chàng Đăm Par Kvây ra lệnh cho tôi tớ chuẩn bị lễ vật để cúng thần linh xin thần linh tha tội cho hai con của mình như sau:

”Hãy đi lấy rượu 7 ché, bò trắng 7 con, trâu đực trắng 7 con, lợn thiến trắng 7 con để chúng ta cúng đất nào”. Hay khi làm xong cây thang lên trời chàng Đăm Kteh Mlan đã cho giết trâu bò, gà, lợn để cúng như sau: ”Đăm Kteh Mlan cho giết bò 7 con để cúng cho nhà, trâu 7 con để cúng cho làng, cho tất cả bà con anh em. Trong 7 ngày đêm, chàng ăn uống cùng dân làng, họ hàng bà con” [7; tr.189].

- Vua quạ chỉ cho chàng Đăm Kteh Mlan nơi chàng phát rẫy làm nương như sau:

Ih tul dla\ng kâo phiơr, ayo\ng ho\! Ti anôk kâo dar leh ana\n kđhuh siap kjuh blư\, tơ ana\n yơh ih mdơ\ng “uôn. Leh ana\n kâo dar kjuh blư\, tơ ana\n yơh, ih nga\ hma. Kjuh thu\n `u ca\t, ih nga\ êlan leh ana\n đ^ nao dôk ho\ng Yang Hruê, y Du”.

(Ơ anh. Anh hãy nhìn theo cánh tôi bay. Ở đâu tôi lượn và vỗ cánh 7 lần thì ở đó anh sẽ dựng làng. Ở đâu tôi lượn 7 vòng thì ở đó anh sẽ phát rẫy. Cạnh làng tôi sẽ trồng cho anh một cây Tông Lông. 7 năm cây mọc, anh sẽ làm thang mà leo lên trời, vợ chồng cùng sống cuộc sống hạnh phúc với Hơ kung, Y Đu) [7; tr.180].

Ở đây ý nghĩa tả thực đảm bảo đủ số lượng các đồ vật thể hiện sự tôn trọng của con người với thần linh trên trời. Ta còn thấy hình ảnh các con số này xuất hiện trong các sử thi khác như trường ca Đăm San.

Ví dụ như: Đăm San lệnh cho tôi tớ của mình mang các đồ vật để cúng các vị thần linh như sau:

”Hỡi các con! Đi bắt trâu và khiêng rượu về đây làm lễ. 5 trâu nên cúng những người đã chết! 7 chụm rượu để cúng cho ta. Ta đi cúng đứa nào bắt vợ ta
[17; tr.60].

Các con số lẻ và hình ảnh đi kèm theo thường làm nên những hình ảnh biểu trưng trong câu, nó có khi mang ý nghĩa tả thực và cũng có lúc không mang ý nghĩa tả thực, nhưng bao giờ nó cũng mang ý nghĩa biểu trưng, biểu hiện một ý niệm khái quát nào đó.

Ví dụ: Hình ảnh nồi bung nồi 7, 1 chuồng gà, 1 chuồng trâu, vv…những hình ảnh này thể hiện sự giàu có, trù phú, còn số lượng không mang ý nghĩa tả thực.

Ví dụ khác: ”Cả trăm nghìn người điều dừng tay dừng chân để lắng nghe ve con diều”. Con số và hình ảnh Cả trăm nghìn người mang ý nghĩa biểu trưng cho sự đông đúc của buôn làng mà không cụ thể số lượng.

Những con số và hình ảnh được phản ánh trong sử thi Êđê cũng xuất phát từ chính hiện tượng trong cuộc sống, từ đó tạo ra một thói quen trong cách nói của người Êđê hết sức độc đáo. Ví dụ như: 7 cái nong, trăng mọc được 3 đêm, 3 ngón tay, 5 ngón tay, 7 năm liền trời nắng hạn, vv…

Một đều khá đăc biệt trong sử thi Đăm Kteh Mlan chính là các con số cùng các hình ảnh đi kèm với nhau thường dùng một con số lặp lại để chỉ nhiều hình ảnh khác nhau như: 1 chiếu trắng trải dưới 1 chiếu đỏ trải trên, 7 tấm áo, 7 cánh áo, 7 thứ ngải, 7 bầu rượu, bò 7 con, trâu 7 con, bảy cái máng nước, vv…tạo ra sự ngắn gọn về nội dung, và ý nghĩa về mặt nhận thức cho người đọc khi tiếp nhận.

Ngoài việc sử dụng các con số mang ý nghĩa biểu trưng trong sử thi còn có những từ chỉ lượng để phản ánh số lượng tương đối không hoàn toàn chính xác như những sự vật, hiện tượng, từ đó người sử dụng và người tiếp nhận dễ ràng sử dụng có hiệu quả.

Ví dụ: Một năm khác, tháng khác lại đến, mười rẫy cũ, năm rẫy mới, mười đêm ở trong rừng, mười ngày ở trong núi, lên tiếng hỏi hai ba lần, vvmiêu tả bước đi của nàng Hbia Ling Pang như sau: Trăm người đi trước, nghìn người bước theo sau, một mình Hbia Ling Pang đi giữa. Hay chàng Đăm Kteh Mlan ra lệnh cho tôi tớ của mình như sau: ”Ơ ngàn chim sẻ ơ ngàn chim ngói, ơ tất cả tôi tớ của ta có mặt ở đây!”. Các từ ngữ như: năm, tháng, mười, hai ba, vv…đã tạo ra một hệ thống các từ chỉ lượng có giá trị trong ngôn ngữ cách diễn đạt của người Êđê.

Như vậy việc sử dụng các con số gắn với những hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng trong sử thi đã tạo ra đặc điểm ngôn ngữ ngắn gọn, xúc tích, phù hợp với lối diễn đạt ví von giàu hình ảnh đầy tính sáng tạo và độc đáo trong việc thể hiện cuộc sống con người.

2.3. Ý nghĩa và giá trị của biểu trưng trong Đăm Kteh Mlan

2.3.1. Biểu trưng nghệ thuật góp phần thể hiện hiện thực

Sử thi Êđê bao gồm sử thi Đăm Kteh Mlan là bức tranh toàn cảnh hiện thực của tộc người Êđê cổ truyền, từ những bức tranh thiên nhiên núi rừng đến những cảnh sinh hoạt đầm ấm trong mỗi buôn làng cho đến từng gia đình, vv…Có thể thấy rất rõ bức tranh hiện ra trong sử thi rất sinh động, đa dạng và phong phú thông qua các chi tiết cụ thể như: hình ảnh buôn làng vào mùa làm nương làm rẫy để trồng lúa tỉa bắp, khu rừng với hoa trái xanh tươi, các con thú vô tận, hay hình ảnh cuộc sống sinh hoạt của con người.

Ta bắt gặp ngay đầu tiên trong sử thi đó là hình ảnh rất quen thuộc của buôn làng tấp nập cảnh lao động sản xuất diễn ra từng ngày như: cảnh trên nương trên rẫy, gieo trồng thu hái cây lúa, cây ngô, vv…đến hình ảnh những người giã gạo trong buôn làng, cùng những hình ảnh mùa lễ hội với các nghi lễ cúng tế thần linh của người Êđê. Bức tranh hiện thực còn là những chi tiết sinh động về thiên nhiên tuyệt đẹp như: hình ảnh mùa hoa nở rộ, cây trái xum xuê, dòng sông, bến nước, vv…Tất cả tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh gần như chính cuộc sống thực đang diễn ra xung quanh.

Chẳng hạn như hình ảnh về cuộc sống con người và cảnh sắc của miền núi rứng Tây Nguyên qua bức tranh cuộc sống đông vui của buôn làng qua đoạn sử thi như sau:

”Họ nhìn làng cất trên một ngọn đồi lum lum như một mu rùa. Các rẫy lưng chừng trên sườn đồi. Trâu bò nhi nhúc như bầy mối, bầy kiến. Đường từ bên trái qua bên phải rộng đến nỗi hai người đứng hai bên đường, một người thẳng tay giơ lên một cái lao và một người thẳng tay giơ lên một con dao dài cũng chưa chạm nhau. Dấu chân
ngựa và voi trên đường làm cho đường giống như một sợi dây đánh, Tớ trai đi lại chen chúc nhau, ngực sát ngực. Tớ gái vú sát vú. Thật không có gì đẹp và nhộn nhịp như làng này”
[17; tr.21].

Một ví dụ khác về bức tranh hiện thực được phản ánh trong sử thi, đó là bức tranh về buôn làng trước ngày mừng làng mới được miêu tả như sau:

”Làng sao mà to người sao mà đông đến thế! Còn trâu bò thì sao mà đầy ắp cả suối khe! Họ quả là một tù trưởng đang giàu lên. Cồng chiêng đầy ắp cả nhà” [4; tr.183].

Thiên nhiên, con người gắn kết hòa hợp đã tạo nên một bức tranh sinh động, đa dạng về miền đất con người Tây Nguyên, qua các hình ảnh biểu trưng như những nét văn hóa người Êđê đã đi vào các trang sách sử thi với cách thể hiện ngôn ngữ giàu hình ảnh, góp phần xây dựng nên bức tranh hiện thực về thiên nhiên, con người đa dạng từ nhiều góc độ quan sát.

2.3.2. Biểu trưng nghệ thuật góp phần thể hiện đời sống tinh thần

Trong đời sống tinh thần của người Êđê tồn tại phong phú, đa dạng các hình ảnh, hình tượng có ý nghĩa biểu trưng mang đậm bẳn sắc văn hóa dân tộc, đó là:

Ý nghĩa biểu trưng của các vị thần linh: Trong đời sống tâm linh của người Êđê tồn tại rất nhiều loại thần (yang) khác nhau, mỗi thần tượng trưng cho những ý nghĩa khác nhau, chẳng hạn: thần Ađu Ađiê có nhiệm vụ chăm lo đời sống con người; thần Gỗn có cái bụng tốt, thương người; thần Băng Bdung Bdai (thần Mẹ) yêu thương giúp đỡ những con người nghèo khổ, gặp hoạn nạn, khó khăn không nơi nương tựa, vv…Đáng lưu ý hơn là người Êđê còn quan niệm mọi vật xung quanh con người hầu như đều có yang, yang thì có yang tốt, yang xấu, yang tốt thì làm lợi cho con người, còn yang xấu thì làm hại con người. Vì thế, với quan niệm này, từ lâu nó đã bao vây xung quanh đời sống tinh thần con người trùng điệp những vị thần linh và tạo ra cho con người những cảm xúc, tưởng tượng phong phú và tinh tế.

Ý nghĩa biểu trưng của các hình ảnh trong tự nhiên và cuộc sống:

Trước hết phải nói đến hình ảnh cây đa (mnut), cây sung (hra) ở đầu làng. Nó là nơi cư ngụ của các vị thần và cũng là nơi tổ chức hội họp, lễ hội, đình đám, sinh hoạt chung của cộng đồng, nơi hẹn hò của những mniê (con gái chưa có chồng) và những êkei (chàng trai chưa có vợ)… Hầu như buôn nào nguời ta cũng trồng cây sung, cây đa ở đầu suối hay đầu làng. Tác dụng của cây đa, cây sung đối với dân làng là như vậy, nó được so sánh như trách nhiệm của những Khoa sang (người nữ gia trưởng) đối với các thành viên đại trong gia đình, Mđuôm buôn (Già làng), Khoa buôn (Trưởng buôn), Mơ Tao (Tù trưởng)… đối với các thành viên trong buôn làng. Vì thế, hình ảnh cây đa, cây sung trở thành biểu tượng đẹp đẽ trong đời sống văn hóa tinh thần người Êđê.

Hay chim bhi là một giống chim rừng màu lông thay đổi theo sáng, chiều. Người Êđê thường dùng hình ảnh con chim này để chỉ kẻ không giữ lời hứa, không nhất quán.

Hình ảnh con chim dơdao vàng và chim phị đỏ được xem như con vật thần bay giữa trời và đất.

Hình ảnh cây Tông Lông có ý nghĩa là cầu thang bắc lên trời, thể hiện ước mơ khát vọng của người Êđê.

Hình ảnh cái cồng klông, con cà tong cụt đuôi chỉ kẻ hay sinh sự.

Hình ảnh con ngựa cụt đuôi, con voi cụp ngà là con vật linh thiêng của thần linh, thể hiện sự linh thiêng và sức mạnh.

Hình ảnh con vắt, con đĩa chỉ kẻ đi lang thang, biếng làm, nay ăn nhà này mai ăn nhà khác hoặc chỉ các phù thủy (mjâo) chuyên tìm cách bòn rút của cải của nhân dân.

Vì không thể uốn thẳng cái cáùn niếc, cái cán chà gạc nên các hình ảnh này có ý nghĩa biểu trưng chỉ những kẻ không nghe lời mẹ cha dạy bảo, không nghe lời Già làng khuyên răn, vv…

Tóm lại, Tính biểu trưng là đặc tính quan trọng và phổ biến trong đời sống văn hóa tinh thần người Êđê, với những biểu hiện của đặc tính này trong quan niệm tín ngưỡng và văn học dân gian được trình bày như trên cũng đã thể hiện dấu ấn đậm nét trong nhiều lĩnh vực khác nhau của tri thức và sinh hoạt văn hóa dân gian của người Êđê. Qua đó chúng ta có thể lý giải được nhiều hiện tượng văn hóa dân gian khác nhau, cũng như đời sống tâm linh và tâm lý người Êđê.

2.4. Sự tương đồng và khác biệt về ý nghĩa biểu trưng giữa Đăm Kteh Mlan với một số loại hình nghệ thuật ngôn từ khác.

2.4.1. Sự tương đồng

Có thể nói biểu trưng ngôn ngữ nghệ thuật xuất hiện trong tất cả các ngành nghệ thuật, từ cuộc sống đến các tác phẩm văn học nghệ thuật do quá trình sử dụng mà ý nghĩa biểu đạt của nó xuất hiện. Nhìn chung hình ảnh mang ý nghĩa biểu trưng giữa sử thi Êđê và các loại hình nghệ thuật ngôn từ khác có những điểm tương đồng tương đương với nhau như là: trước tiên các hình ảnh biểu trưng điều xuất phát từ những hình ảnh, sự vật, hiện tượng từ đặc điểm hình ảnh trong cuộc sống, qua đó phản ánh ý nghĩa khát vọng của con người, tiêu biểu cho một nền văn hóa dân tộc.

Ví dụ: Hình ảnh biểu trưng về thiên nhiên cảnh sắc con người như: cây đa, cây sung, bến nước, giếng nước, đầu làng, vv…cùng để chỉ những loài cây có ý nghĩa đại diện cho cộng đồng nơi linh thiêng gắn với nét sinh hoạt văn hóa của con người.

Ví dụ khác hình ảnh biểu trưng về các con vật thường xuất hiện trong sử thi và các loại hình nghệ thuật ngôn từ khác như: con chim, con trâu, con bò, con gà, con chuột, con mèo, vv…đây là những con vật đi liền với đời sống tâm linh của dân tộc Việt vì vậy mà các con vật này trở thành biểu trưng chung cho cả dân tộc.

Còn dựa trên ý nghĩa cấu tạo thì các giá trị có ý nghĩa biểu trưng thì hầu hết các hình ảnh biểu trưng điều được cấu tạo từ đặc điểm ngôn ngữ với những tính chất như: cân đối, hài hòa, xu hướng khái quát hóa.

Ví dụ như: Cây hoa tre, cây dừa, vv…trong tác phẩm văn học Việt được xây dựng trên những đặc điểm tự nhiên vốn có phù hợp với các giá trị con người, sử thi Êđê cũng vậy để xây dựng hình ảnh cây đa, cây sung cũng dựa trên đặc điểm có trong buôn làng cộng đồng người Êđê.

Ví dụ: Cách cấu tạo không gian văn hóa người Êđê được thể hiện qua ngôi nhà sàn (nhà dài) người Êđê thiết kế ngôi nhà theo cấu trúc cân đối, hài hòa với tự nhiên, địa thế, chất liệu, phong thủy và chức năng sử dụng. Người Việt cũng vậy để xây dựng nên các đình làng, nhà thờ dòng họ cũng phải dựa theo nét văn hóa chung cho đến kiến trúc, chất liệu, phong thủy, vv…

Ý nghĩa biểu trưng của những con số cũng chính là điểm tương đồng giữa sử Êđê, người Êđê thích dùng các con số để biểu thị ý nghĩa thẩm mĩ, giá trị sử dụng thì người Việt cũng vậy, chính những con số tạo nên nét khác biệt với các quốc gia trên thế giới.

Ví dụ: Trong sử thi có các hình ảnh: 5 con trâu, 7 con bò, 5 ché rượu, 7 con bò,
vv… còn trong ca dao, tục ngữ của người Việt cũng dùng các con số như: 3 bề 4 bên, 3 mặt 1 lời, 5 bè 7 mối, vv…có được điểm tương đồng này là do xuất phát theo lối tư duy tổng hợp.

Ví dụ: người Êđê thường dùng các số đi kèm từng cặp với nhau như: 1 con trâu, 1 con gà, 1 nắm sôi, vv…thì người Việt cũng có cách nói tương đương như: trăm người, vạn dân, nghìn số, vv…

Tóm lại, từ những ý nghĩa biểu trưng tương đồng với nhau trên đã tạo ra điểm chung trong cách nhìn nhận gần gũi nhau khi phản ánh tự nhiên, con người. Ý nghĩa biểu trưng trở thành điển hình chung cho tiếng nói dân tộc thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật.

2.4.2. Sự khác biệt

Trong thế giới loài người không một nền văn hóa nào hoàn toàn giống nhau chính sự khác nhau về mặt văn hóa đó đã tạo ra cho nhân loại một thế giới văn hóa đa sắc màu, hết sức đa dạng, ngay trong một dân tộc, một quốc gia cũng có sự khác biệt. Trong văn học nghệ thuật xét về mặt ý nghĩa biểu trưng giữa sử thi Êđê và các loại hình nghệ thuật khác cũng có những điểm khác biệt nhau, cụ thể như sau:

Trước tiên đó là phạm vi phổ quát của các hình ảnh mang giá trị ý nghĩa biểu trưng, thông thường các hình ảnh biểu trưng của người Việt thường mang tính công chúng phổ biến, tiêu biểu hơn so với hình ảnh của người Êđê.

Ví dụ: Hình ảnh cây đa, cây sung, bến nước, vv…của người Êđê chỉ đại diện cho một tộc người một khu vực, còn các hình ảnh như: bông sen, cây tre, giếng nước, đình làng vv…lại tiêu biểu cho một quốc gia, một dân tộc.

Tiếp đến sự khác biệt nữa về mặt ý nghĩa biểu trưng thể hiện cách sử dụng các hình ảnh mang tính biểu trưng, thông thường người Êđê dùng các hình ảnh, sự vật, sự việc, hiện tượng biểu trưng. Từ đó tạo ra được thói quen gần gũi như lời ăn tiếng nói, và trong các nghi thức cúng tế thần linh, còn người Việt thì những đặc điểm biểu trưng đó mang yếu tố thiêng liêng cao hơn là ý nghĩa dùng cho sinh hoạt.

Ví dụ: Cùng để chỉ con mèo thì người Việt thường có cách nói: tính như mèo, ăn như mèo, nói như mèo, vv…hay trong dân gian thường nói.

”Chồng người đi ngược về xuôi

Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo”.

Như vậy đối với người Việt con mèo dùng để chỉ tính cách tiêu cực của con người, còn người Êđê khi nói đến con mèo thường dùng để chỉ các đặc điểm như: linh hoạt, nhanh nhẹn, nhạy bén, khôn khéo, vv…để chỉ cách tốt đẹp của con người.

Ví dụ: cùng chỉ về người phụ nữ đẹp hay cảnh thiên nhiên thì người Việt thường ví như: đẹp như hoa, đẹp như bức tranh, đẹp nghiêng nước nghiêng thành, vv…

”Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang

Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Hay

”Đường vô xứ nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

Còn trong sử thi Êđê cái đẹp gắn với các sự vật cụ thể như: đẹp như đúc trong khuôn, đẹp như khăn thiêu hoa, vv…

”Người trông như đúc trong ống, như đổ bằng bạc, như mẹ cha ẵm bằng khăn sút, khăn đrê thiêu hoa. Váy toàn viền tua đính cườm, thân váy nhiều tầng hoa văn thiêu hình ngôi sao. Áo thì đen, nhuộm màu êmiê. Chân tay điều trắng trẻ, tóc trải nước thơm. Hay chân trông đáng giá một voi, tay đáng giá một nô lệ: đôi vú thì tròn như những cái bầu đàn brộ: mặt trái xoan, thân hiình mềm mại trông như con cá măng đang lội trong vực sâu. Ngắm cái chân không biết no, ngó cái mình không biết chán”
[7; tr.128].

Như vậy, từ những điểm khác biệt trên cho thấy sự phong phú về mặt ý nghĩa biểu trưng mà không hề mâu thuẫn, đồng thời cùng góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú hơn trong văn học nghệ thuật.

2.5. Tiểu kết

Biểu trưng nghệ thuật trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan khá phong phú đa dạng. Các hình ảnh sự vật sự việc có ý nghịa biểu trưng đều gắn liền với môi trường tự nhiên, đời sống kinh tế, văn hóa của người Êđê. Giá trị của những biểu trưng được thể hiện qua tác phẩm chính là những giá trị về tinh thần và văn hóa của người Êđê, đến nay các giá trị ấy vẫn còn có giá trị và luôn được người Êđê vận dụng trong cuộc sống.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KẾT LUẬN

 

Sử thi Êđê nói chung, tác phẩm Đăm Kteh Mlan là những sáng tạo của nghệ thuật ngôn từ độc đáo của cộng đồng người Êđê. Những tác phẩm sử thi này có giá trị nhiều mặt, về nội dung ý nghĩa hình thức nghệ thuật ngôn từ. Tuy nhiên, xét trong mối quan hệ giữa ngôn từ và văn hóa thì sử thi Êđê nói chung, trong đó có tác phẩm Đăm Kteh Mlan nói riêng lại toát lên những khía cạnh giá trị khác nhau biểu hiện sâu sắc đời sống văn hóa của người Êđê.

Nghiên cứu các biểu trưng nghệ thuật qua tác phẩm Đăm Kteh Mlan của người Êđê sẽ nhìn sâu hơn những giá trị tinh thần cổ truyền của người Êđê. Đó là: sự phong phú đa dạng của các hình ảnh biểu trưng. Ý nghĩa của các biểu trưng được thể hiện qua các nhóm hình ảnh sự vật, sự việc có trong cuộc sống và tự nhiên mà nó gắn bó với con người. Đặc biệt cách biểu trưng của người Êđê có sự kết hợp giữa các con số mang ý nghĩa ước lệ và hình ảnh sự vật, sự việc mang ý nghĩa tượng trưng. Nhờ vào sự cấu tạo độc đáo này làm cho các hình ảnh, sự vật, sự việc có ý nghĩa biểu trưng trở nên có ý nghĩa sâu sắc, mang đậm bản chất văn hóa dân tộc.

Chính từ các hình ảnh sự việc cụ thể làm nên ý nghĩa biểu trưng đã khái quát nên những giá trị văn hóa cho tác phẩm. Đối với tác phẩm Đăk Kteh Mlan thì các ý nghĩa biểu trưng đã góp phần thể hiện bức tranh hiện thực của sử thi, bức tranh ấy tuy có đượm những yếu tố tưởng tượng hoang đường nhưng yếu tố hiện thực vẫn luôn là cốt lõi. Mặt khác, cũng từ các biểu hiện biểu trưng này còn thể hiện khát vọng của người xưa về một cuộc sống trù phú, ấm no, một cộng đồng xã hội luôn hướng đến sự hoàn mỹ.

Đồng thời các ý nghĩa biểu trưng này có những nét tương đồng và nét dị biệt so với những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ khác. Đặc biệt, so sánh với cách diễn đạt của người Kinh, chúng ta nhận thấy sự ”gặp gỡ” rất thú vị và sự khác biệt rất độc đáo và mới hay mỗi dân tộc khác nhau sẽ có những khía cạnh văn hóa khác nhau.

Đến nay tác phẩm Đăm Kteh Mlan nói riêng, sử thi Ê đê nói chung còn nhiều vấn đề chưa đi sâu nghiên cứu. Pham vi nghiên của của đề tài chỉ là một một vấn đề nhỏ, tuy nhiên cũng đã góp phần làm sáng tỏ giá trị đặc sắc cho thể loại sử thi của dân tộc Êđê. Hy vọng ngày càng có thêm nhiều nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của sử thi Êđê để góp phần khẳng định giá trị của những kiệt tác này.

 

 

 

 

 

 

 

CHÚ THÍCH

 

(1): Nền điện ảnh nổi tiếng thế giới

(2): Hai biểu tượng thời trang nổi tiếng châu Âu

(3): Địa danh trong tác phẩm Đăm Kteh Mlan chỉ nơi gặp gỡ giữa các nhân vật

(4):
Còn gọi là khan Đăm San

(5): Những người có tuổi, có kinh nghiệm, thuộc nhiều sử thi

(6): Hồn thóc mang yếu tố thần linh

(7): Loài dụng cụ dùng trong sản xuất

(8): Loài hoa đặc trưng ở vùng đất Tây Nguyên

(9): Loài vật do con người tưởng tượng ra, ở chốn thần linh

(10): Loài cây do con người tưởng tượng gắn với yếu tố thần linh

(11): Dụng cụ lao động thường ngày của người Êđê

(12): Có thật trong thực tế gắn với yếu tố thần linh

(13): Loài cây lá kim đặc trưng có ở vùng đất Tây Nguyên

(14): Loài cây lúa quý có nguồn gốc từ xưa, thường dùng vào dịp đặc biệt

(15): Thảo dược chiết xuất từ cây ksoa

(16): Loài chim có màu đỏ, dùng để thể hiện sức mạnh tự nhiên

(17): Những vị thần linh cai quản tầng trời, đất

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Hà Duy Bắc (2001), Bản sắc dân tộc trong thơ ca hiện đại Việt Nam hiện đại (1945 – 1975), Nxb. Giáo dục

2. Nguyễn Hữu Đức (1999), Văn học dân gian Việt Nam (Bài giảng)

3. Đinh Gia Khánh (1998), Văn học dân gian việt nam, Nxb. Giáo dục Hà Nội

4. Lê Mai (1975), Trường ca Tây Nguyên Đăm Săn – Xinh Nhã – Y Ban, Nxb. Giáo dục

5. Phan Đăng Nhật (2001), Nghiên cứu sử thi Tây Nguyên, Nxb. Khoa học xã hội

6. Buôn Krông Tuyết Nhung (2000), Khảo sát sử thi Êđê ở Đăk Lăk. (Luận văn thạc sỹ)

7. Nguyễn Hữu Thấu (2003), Khan Đăm San Và Đăm Ktek Mlan, Nxb. Khoa học xã hội (chữ êđê và chữ việt)

8. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Trường Đại học KHXH & NV

9. Trần Ngọc Thêm (1996), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Trường Đại học KHXH & NV

10. Trương Thông Tuần (2005), Ngôn ngữ sử thi Tây Nguyên giàu nhạc điệu, Tạp chí khoa học xã hội, số 3 + 4 (91+92) – Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ

11. Trương Thông Tuần (2005), Đặc điểm sử dụng hình ảnh trong sử thi Đăm San, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Ngữ học Trẻ

12. Trương Thông Tuần (2007), Tính thẩm mỹ trong luật tục Êđê, Tạp chí khoa học xã hội. Số 6 (106) – Viện khoa học xã hội vùng Nam Bộ

13. Trương Thông Tuần (2008), Ngôn ngữ được sử dụng trong sử thi Tây Nguyên, Tạp chí nguồn sáng dân gian, số 1(2008) – Hội văn nghệ dân gian Việt Nam

14. Hoàng Tiến Tựu (1998), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Giáo dục

15. Nguyễn Thị Minh Thu, Chi tiết đặc tả trong Sử thi – Khan, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 3. 2008.

16. Trần Quốc Vượng (2001), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục

17. Từ điển tiếng Êđê – Việt (1993), Viện ngôn ngữ Việt Nam – UBND tỉnh Đăk Lăk

 

 


 

 

0 phản hồi

Bạn có thể là người đầu tiên để lại phản hồi.

Viết một phản hồi

 




 

Theo dõi

 
 
Tiến sĩ: Trương Thông Tuần